Kiến tạo không gian văn hóa Giữ bản sắc đô thị, bồi đắp hồn quê

(KTVN 263) Không gian văn hóa không chỉ hiện hữu trong những công trình, quảng trường hay thiết chế cộng đồng, mà còn được tạo nên từ ký ức, lối sống và mối liên hệ giữa con người với nơi mình sinh sống. Tuy nhiên, dưới sức ép đô thị hóa và quá trình xây dựng nông thôn mới, nhiều không gian công cộng đang bị thu hẹp, cảnh quan truyền thống dần biến đổi, không ít công trình trở nên giống nhau và thiếu dấu ấn địa phương. Làm thế nào để quy hoạch, kiến trúc vừa đáp ứng yêu cầu phát triển hiện đại, vừa gìn giữ bản sắc và nuôi dưỡng đời sống cộng đồng

THỰC TRẠNG KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG TẠI HÀ NỘI

Hà Nội có diện tích tự nhiên khoảng 3.360km², trong đó đất đô thị đã vượt 1.500km². Theo các quy hoạch mới, diện tích này có thể đạt gần 2.000km², chiếm khoảng 70% diện tích thành phố. Đất đô thị chủ yếu dành cho nhà ở thương mại và hạ tầng khu ở, khiến diện tích sàn nhà ở tăng trung bình 10% mỗi năm. Từ 12 triệu m² năm 2002, diện tích sàn dự kiến đạt 360 triệu m² vào năm 2030, tăng 30 lần; đất đô thị tăng hơn 16 lần.

Tuy nhiên, đất giao thông hiện chiếm dưới 10%, trong khi nhu cầu khoảng 20–25%, dẫn đến ùn tắc và thiếu chỗ đỗ xe. Việc quá chú trọng khai thác bất động sản đã làm thiếu hụt hạ tầng kỹ thuật, xã hội thiết yếu. Quá trình mở rộng đô thị còn kéo theo san lấp ruộng, thu hẹp thảm thực vật, mặt nước và vùng bán ngập, làm thay đổi địa hình, mất cân bằng sinh thái và gia tăng úng ngập.

Hơn 20 năm qua, nhiều khu đô thị mới được xây dựng trên đất ruộng của các làng ven đô, hình thành hai loại hình cư trú cạnh nhau nhưng thiếu kết nối. Việc san nền, chia cắt kênh mương khiến nước mưa tràn vào làng xóm cũ. Nhiều dự án hoàn thành nhà ở thương mại nhưng chậm xây dựng trường học, công viên, chợ, bãi đỗ xe, thiết chế văn hóa và công trình tín ngưỡng.

Hệ quả là hạ tầng làng cũ bị quá tải, chất lượng sống của cả hai khu vực suy giảm. Sau 25 năm đầu thế kỷ XXI, Hà Nội phát triển nhanh về quy mô nhưng chưa quan tâm đúng mức đến quan hệ xã hội và sự hình thành cộng đồng đô thị. Đây là thách thức cần sớm được khắc phục bằng quy hoạch đồng bộ, kết nối và bền vững.

Có một thực tế đáng lưu ý là phần lớn đồ án quy hoạch hiện nay chủ yếu do những người làm chuyên môn quy hoạch thực hiện, chưa có sự tham gia đầy đủ và thực chất của các chuyên gia văn hóa, xã hội, lịch sử, sinh thái và môi trường. Vì vậy, không ít đồ án mới dừng lại ở việc tổ chức không gian theo tư duy hình học, chú trọng hiệu quả thị giác nhưng thiếu chiều sâu văn hóa và giá trị nhân sinh.

Nhiều bản quy hoạch chưa tích hợp đầy đủ những nội dung về văn hóa, xã hội, lịch sử, địa lý nhân sinh, sinh thái môi trường và đa dạng sinh học. Thực tế cho thấy, không ít đồ án mang danh quy hoạch đô thị nhưng về bản chất chủ yếu phục vụ xây dựng và kinh doanh bất động sản thương mại. Việc đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu đã dẫn đến những tác động tiêu cực như san lấp ao hồ, thu hẹp không gian xanh, phá vỡ hệ sinh thái, làm biến đổi địa hình, địa mạo tự nhiên và chia cắt các mối quan hệ địa lý – nhân sinh vốn được hình thành qua nhiều thế hệ.

Đáng lo ngại hơn, quá trình phát triển này còn làm phai nhạt ký ức văn hóa, xóa bỏ dấu tích lịch sử và phá vỡ cấu trúc xã hội của cộng đồng địa phương. Không gian cư trú mới được tạo lập nhưng thiếu sự kế thừa bản sắc, thiếu thiết chế gắn kết con người và chưa hình thành được mối quan hệ hài hòa với cộng đồng hiện hữu.

Trong 25 năm đầu thế kỷ XXI, vẫn thiếu những mô hình quy hoạch thực sự hướng tới mục tiêu xây dựng cộng đồng đô thị bền vững, nơi con người, văn hóa, lịch sử và tự nhiên được coi là nền tảng. Do đó, quy hoạch trong giai đoạn mới cần chuyển từ tư duy phân chia đất đai, tạo lập hình khối sang kiến tạo môi trường sống, bảo vệ hệ sinh thái và nuôi dưỡng quan hệ cộng đồng.

“DI SẢN SỐNG” VÀ GIẢI PHÁP TÍCH HỢP KHÔNG GIAN DI SẢN ĐƯƠNG ĐẠI

Để hệ thống di sản, phố cũ, làng cổ, hồ nước và không gian cộng đồng tiếp tục “sống” trong đô thị đương đại, Hà Nội cần chuyển từ bảo tồn thụ động, mang tính “bảo tàng hóa”, sang bảo tồn thích ứng và phát triển “di sản sống”. Di sản chỉ bền vững khi mang lại giá trị kinh tế, văn hóa và xã hội thiết thực cho cộng đồng.
Người dân phố cổ và các làng cổ như Đường Lâm, Bát Tràng, Đông Ngạc phải trở thành chủ thể bảo tồn, đồng thời được hưởng lợi từ du lịch và dịch vụ văn hóa. Thành phố cần có chính sách ưu đãi thuế, tín dụng để hỗ trợ các hộ duy trì nghề truyền thống, bảo tồn nhà cổ và kinh doanh sản phẩm bản địa. Ruộng lúa, vườn cây, ao hồ cũng phải được xem là bộ phận của di sản làng quê; người trực tiếp duy trì cảnh quan cần nhận được nguồn thu tương xứng.

Làng cổ Đường Lâm

Hà Nội cần đẩy mạnh tái sử dụng thích ứng, chuyển đổi di sản công nghiệp và kiến trúc cũ thành không gian công cộng, nghệ thuật, sáng tạo.

Thành công của Lễ hội Thiết kế sáng tạo năm 2024 tại Nhà máy Xe lửa Gia Lâm cho thấy tiềm năng này. Bốt nước Hàng Đậu, Nhà máy Bia Hà Nội và các biệt thự Pháp cổ có thể được tái sinh thành tổ hợp nghệ thuật, thư viện, triển lãm hoặc công viên văn hóa.

Đối với hồ nước và không gian xanh, cần hạn chế bê tông hóa, thương mại hóa bờ hồ; phục hồi hệ thủy sinh và tăng sự tham gia quản lý của cộng đồng.

Trong quy hoạch tái thiết đô thị, mô hình TOD phải ưu tiên kết nối các không gian văn hóa, lịch sử, thay vì chỉ gia tăng giá trị bất động sản. Thành phố cũng có thể nghiên cứu chuyển nhượng quyền phát triển để tạo nguồn lực tu bổ nhà cổ.

Giải pháp cấp thiết là xây dựng cổng thông tin Văn hóa – Di sản – Du lịch và hệ thống WebGIS công cộng, tích hợp dữ liệu về công viên, hồ nước, di tích và thiết chế văn hóa, giúp cộng đồng tiếp cận, giám sát và phát huy hiệu quả tài sản văn hóa của Thủ đô.

VAI TRÒ CỦA QUY HOẠCH VÀ KIẾN TRÚC TRONG VIỆC KẾT NỐ XÃ HỘI

Kiến trúc và quy hoạch đô thị – nông thôn Hà Nội giữ vai trò như “khung đỡ vật lý và pháp lý” cho các tương tác xã hội. Để không gian sống thực sự gắn kết con người, thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo, cũ – mới, quy hoạch cần lấy cộng đồng làm trung tâm.

Trước hết, cần tạo thêm các khoảng đệm và không gian công cộng nhỏ trong khu dân cư, khắc phục sự đứt gãy giao tiếp do đô thị nén, chung cư khép kín và khu ở “kín cổng cao tường”. Tại phố cổ, phố cũ, cần bảo đảm vỉa hè cho người đi bộ, đồng thời tổ chức các hoạt động kinh doanh mở phù hợp với sinh hoạt phố phường.

Tại làng ven đô và nông thôn, cần bảo tồn, nâng cấp sân đình, giếng nước, cây đa, chợ, đường làng, ao làng, đền, miếu thành không gian sinh hoạt đa năng. Những bãi rác tự phát, góc ngõ và “khoảng trống chết” có thể cải tạo thành sân chơi nhỏ, vườn cộng đồng hoặc nơi tập thể dục.

Đối với khu đô thị xây trên đất làng cũ, cần bố trí công viên mở, phố đi bộ và trung tâm thể thao tại khu vực tiếp giáp để cư dân hai bên cùng sử dụng. Mô hình nhà ở hỗn hợp cần được khuyến khích nhằm hạn chế phân chia “khu nhà giàu” và “khu nhà nghèo”.

Quy hoạch phải có sự tham gia của cộng đồng. Khi được đóng góp ý tưởng và công sức, người dân sẽ có trách nhiệm gìn giữ không gian chung. Nhà văn hóa cần thiết kế linh hoạt, phục vụ người cao tuổi, trẻ em và hoạt động cộng đồng theo từng thời điểm.

Hà Nội cũng cần tái sinh mạng lưới mặt nước, đường xanh; phát triển công viên ven sông, ven hồ, đường đi bộ và đường xe đạp; hạn chế bê tông hóa, tư nhân hóa bờ sông, bờ hồ. Tại nông thôn, cần bảo tồn xóm ngõ, tường rào thấp, hàng rào xanh và sử dụng vật liệu bản địa như gạch, đá ong, gốm, tre, qua đó giữ gìn bản sắc và tình làng nghĩa xóm.

Nhà máy xe lửa Gia Lâm

HÀI HÒA GIỮA TIỆN NGHI HIỆN ĐẠI VÀ BẢN SẮC ĐỊA PHƯƠNG

Hiện tượng “đô thị hóa cưỡng bức” tại nhiều làng quê Bắc Bộ, với những nhà văn hóa bê tông hóa theo mẫu, cổng làng phô trương và nhà ống chia lô xuất hiện tràn lan, đang làm rạn nứt cấu trúc cảnh quan truyền thống. Để kiến trúc nông thôn mới cân bằng giữa tiện nghi hiện đại và hồn cốt bản địa, quy hoạch, thiết kế cần tôn trọng cấu trúc không gian vốn có. Nông thôn không phải phiên bản thu nhỏ của đô thị; mỗi làng quê có quy luật tổ chức riêng, dựa trên mối quan hệ giữa cộng đồng, văn hóa và tự nhiên.

Trước hết, cần bảo vệ hệ thống thiết chế gắn với cấu trúc xã hội nông thôn như đình làng, chùa làng, bến nước, cây đa, ao hồ, giếng, lũy tre, đường làng, văn chỉ, nghè, miếu, đền, chợ, nghĩa trang và vườn làng. Công trình công cộng mới không được che khuất, lấn át hoặc phá vỡ các điểm mốc tâm linh, lịch sử và văn hóa truyền thống.

Bên cạnh các thiết chế lõi, cần bảo vệ “lớp đệm sinh thái” gồm ao làng, kênh rạch, vườn cây, lũy tre và hàng rào xanh. Đây vừa là hạ tầng thoát nước tự nhiên, vừa giúp điều hòa vi khí hậu. Việc kè cứng, bê tông hóa bờ ao và san lấp mặt nước có thể làm mất khả năng tiêu thoát nước, phá vỡ hệ sinh thái làng quê.

Quy hoạch cũng phải duy trì tính mở của xóm ngõ, hạn chế phân lô theo kiểu ô bàn cờ và phát triển nhà ống dày đặc. Các tuyến ngõ uốn lượn tự nhiên, tường rào thấp hoặc hàng rào cây xanh cần được gìn giữ để duy trì kết nối thị giác và thói quen giao tiếp giữa các gia đình.

Trong bối cảnh sản xuất, phân phối toàn cầu, kiến trúc nông thôn càng cần chú trọng bản địa hóa vật liệu và kỹ thuật xây dựng. Bên cạnh bê tông, kính hoặc mái tôn, cần khuyến khích sử dụng gạch địa phương, đá ong, gỗ, gốm, mây, tre và ngói đất nung. Những vật liệu này tạo dấu ấn quen thuộc, đồng thời thích ứng với khí hậu nhiệt đới ẩm Bắc Bộ. Các giải pháp truyền thống như thông gió tự nhiên, mái dốc, hiên rộng nên được kết hợp với công nghệ tiết kiệm năng lượng và xử lý nước thải tại chỗ.

Công năng kiến trúc phải linh hoạt, thiết thực. Nhà văn hóa không nên chỉ là hội trường hành chính thường xuyên đóng cửa, mà cần phục vụ họp thôn, vui chơi trẻ em, tập luyện của người cao tuổi, phơi nông sản, tổ chức lễ hội và sinh hoạt cộng đồng. Nhà ở nông thôn phải đáp ứng cả sinh hoạt hiện đại và hoạt động sản xuất, với sân phơi, kho chứa, nơi để công cụ và khu chăn nuôi bảo đảm vệ sinh.

Tùy điều kiện từng địa phương, cần lựa chọn mô hình kiến trúc phù hợp, coi trọng hiệu quả sử dụng, hạn chế xây dựng nhà quá lớn nhưng bỏ trống, khắc phục tâm lý phô trương, chạy theo phong trào và lãng phí đang xuất hiện tại nhiều vùng nông thôn.

Thực trạng nhiều nhà văn hóa, trung tâm văn hóa – thể thao cơ sở rơi vào cảnh “trùm mền”, ít người sử dụng đã tồn tại nhiều năm. Nguyên nhân liên quan đến ba yếu tố: thiết kế không gian, cơ chế vận hành và sự tham gia của cộng đồng. Trong đó, hạn chế về cơ chế vận hành là nguyên nhân chính, kéo theo thiết kế thiếu phù hợp và không thu hút người dân.

Nhiều thiết chế được vận hành theo tư duy hành chính hóa, hoạt động chủ yếu trong giờ hành chính và phục vụ hội họp, tuyên truyền hoặc sự kiện định kỳ. Ngân sách tập trung cho xây dựng, mua sắm trang thiết bị nhưng thiếu kinh phí duy trì hoạt động, sáng tạo nội dung, bảo trì và kết nối cộng đồng. Cán bộ cơ sở thường kiêm nhiệm, thiếu kỹ năng quản trị văn hóa và tổ chức chương trình.

Không ít nhà văn hóa được xây dựng theo mẫu đồng loạt, giống một hội trường thu nhỏ với sân khấu và hàng ghế cố định. Thiết kế cứng nhắc khiến công trình khó phục vụ đồng thời người cao tuổi, trẻ em, thanh niên và các nhóm dân cư khác nhau. Khi nội dung không đáp ứng nhu cầu giải trí, học tập, thể thao và giao lưu, người dân sẽ tìm đến những không gian tư nhân.

Để khắc phục, cần đẩy mạnh xã hội hóa, hợp tác công – tư; cho phép tổ chức xã hội, doanh nghiệp sáng tạo và nhóm cộng đồng tham gia vận hành dưới sự giám sát của Nhà nước. Cơ chế “cấp phát” nên chuyển sang “đặt hàng nhiệm vụ”, đồng thời trao quyền tự chủ để các trung tâm tạo nguồn thu hợp pháp và tái đầu tư cho cộng đồng.

Không gian cần chuyển từ “hội trường hành chính” thành trung tâm cộng đồng đa chức năng, kết hợp thư viện mở, khu vui chơi trẻ em, sân thể thao và nơi sinh hoạt văn hóa. Trước khi xây dựng hoặc cải tạo, phải khảo sát nhu cầu của từng nhóm dân cư và để cộng đồng cùng tham gia sáng tạo nội dung.

Lối thoát không nằm ở việc tiếp tục rót tiền xây dựng, mà ở chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị dịch vụ cộng đồng, biến nhà văn hóa từ một “tòa nhà công” thành “ngôi nhà chung”.

TÁI THIẾT DI SẢN CÔNG NGHIỆP THÀNH KHÔNG GIAN VĂN HÓA SÁNG TẠO

Việc tái thiết nhà máy cũ, công trình công nghiệp có giá trị và quỹ đất chậm triển khai thành không gian văn hóa – sáng tạo là xu hướng phát triển đô thị bền vững trên thế giới, tiêu biểu như 798 Art Zone ở Bắc Kinh hay Tate Modern tại London. Với Hà Nội, mô hình này vừa bảo tồn ký ức đô thị, vừa tạo động lực phát triển kinh tế sáng tạo.

798 Art Zone

Thay vì phá bỏ nhà máy để xây cao ốc, tái sử dụng thích ứng giúp giữ lại kết cấu, kiến trúc và dấu tích sản xuất – những yếu tố tạo nên “linh hồn công nghiệp” của thành phố. Các nhà xưởng cũ có thể trở thành không gian sáng tác, trình diễn cho nghệ sĩ, nhà thiết kế trẻ và doanh nghiệp khởi nghiệp. Việc chuyển đổi còn hình thành chuỗi giá trị từ nghệ thuật, thiết kế, ẩm thực, dịch vụ và sự kiện; đồng thời tiết kiệm năng lượng, giảm chất thải xây dựng và bổ sung không gian công cộng.

Mặc dù Hà Nội gia nhập Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO từ năm 2019, nhiều không gian sáng tạo vẫn gặp khó khăn do vướng mắc pháp lý và chi phí. Trong khi cơ chế chưa hoàn thiện, không ít nhà máy cũ, khu đất dự trữ đã được chuyển thành dự án bất động sản thương mại.

Hà Nội cần sớm ban hành tiêu chí đánh giá, lập danh mục di sản công nghiệp có giá trị lịch sử, kiến trúc; đồng thời áp dụng quy hoạch linh hoạt, cho phép sử dụng tạm thời hoặc hỗn hợp đất công nghiệp, đất trống vào mục đích văn hóa, dịch vụ.

Nhà nước nên giữ quyền sở hữu đất, nhà xưởng nhưng cho tổ chức xã hội, doanh nghiệp sáng tạo thuê dài hạn theo tiêu chí đóng góp văn hóa, thay vì chỉ căn cứ vào giá đấu thầu. Thành phố cũng cần ưu đãi tiền thuê đất, thuế, tín dụng; ứng dụng GIS để quản lý tài sản công và thành lập Quỹ Phát triển không gian sáng tạo từ ngân sách kết hợp nguồn lực xã hội hóa, bảo đảm các mô hình hoạt động ổn định, lâu dài.

TRIỂN VỌNG MÔ HÌNH “LÀNG VĂN HIẾN TRONG ĐÔ THỊ HIỆN ĐẠI”

Thực tế tại Việt Nam, rất khó tìm được mô hình phát triển đô thị hoặc nông thôn mới thành công trong việc gắn tăng trưởng kinh tế với bảo tồn văn hóa. Hội An từng được đánh giá là điển hình về bảo tồn di sản, phát triển du lịch và quản trị đô thị cổ gắn với vùng nông nghiệp ven đô. Tuy nhiên, thành quả này vẫn mong manh khi bộ máy quản lý thay đổi và người đứng đầu chưa thực sự thấu hiểu, gắn bó với di sản.

Trước năm 2012, Hội An bảo vệ tương đối tốt phố cổ, làng nông nghiệp, bãi biển, hệ thống sông, đầm, cửa biển, Cù Lao Chàm và không gian biển. Sau đó, nhiều dự án bất động sản quy mô lớn từng bước phá vỡ sự cân bằng. Hạ tầng giao thông chia cắt rừng dừa nước, làm biến đổi dòng chảy; thảm phi lao ven biển bị thu hẹp, hệ sinh thái suy giảm và tình trạng sạt lở gia tăng. Phố cổ bị bao vây bởi các dự án thương mại, trong khi hoạt động giải trí dày đặc tại Cồn Bắp và sông Hoài gây ô nhiễm ánh sáng, tiếng ồn, làm giảm giá trị nguyên bản của đô thị di sản.

Tại Hà Nội, sau hơn 20 năm đô thị hóa nhanh, nhiều làng xóm cũ bị thu hẹp không gian văn hóa; ruộng lúa, vườn cây biến mất; kênh mương, sông hồ dần ô nhiễm. Các khu đô thị mới thu hút lượng dân cư lớn nhưng thiếu kết nối với cộng đồng làng cũ, gây ra nhiều bất cập về hạ tầng, xã hội và văn hóa.

Một số địa phương đang hướng tới mô hình “làng văn hiến trong thành phố hiện đại”, lấy văn hóa, lịch sử làng truyền thống làm hạt nhân kết nối cư dân và đồng bộ hạ tầng kỹ thuật với thiết chế văn hóa. Nếu thành công, đây có thể trở thành mô hình đô thị mới, hài hòa giữa vật chất và tinh thần, giữa truyền thống nghìn năm Thăng Long với tầm nhìn phát triển Hà Nội trong tương lai./.

KTS Trần Huy Ánh

Share

Tin liên quan

Kiến trúc – nơi ký ức dân tộc hiện hữu  Nguồn lực phát triển văn hóa Việt Nam

Kiến trúc – nơi ký ức dân tộc hiện hữu Nguồn lực phát triển văn hóa Việt Nam

(KTVN 263) Kiến trúc không chỉ tạo dựng không gian sống mà còn lưu giữ lịch sử, phong tục, tín ngưỡng và căn tính của...
Kiến trúc – Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam

Kiến trúc – Sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam

(KTVN 263) Một quốc gia có thể được nhận diện qua lịch sử, ngôn ngữ và những giá trị văn hóa được lưu truyền qua...
Nhà Bánh Mì – Nơi An trú dung dị/Countryhouse.Architecture

Nhà Bánh Mì – Nơi An trú dung dị/Countryhouse.Architecture

(Văn bản mô tả do KTS cung cấp) Giữa phố nhỏ Phan Thiết – nơi nắng hong khô từng bức tường và gió biển len...
Casa 9

Casa 9

(Văn bản mô tả do KTS cung cấp) Được thiết kế như một nơi nghỉ dưỡng tâm lý cho các gia đình thành thị, Casa...