Hội đồng nghiệm thu Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn để xây dựng cơ sở dữ liệu kiến trúc quốc gia

Ngày 12/11, Viện Kiến trúc Quốc gia tổ chức Hội đồng tự đánh giá nghiệm thu cấp cơ sở nhiệm vụ khoa học công nghệ Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn để xây dựng cơ sở dữ liệu kiến trúc quốc gia. TS.KTS Hồ Chí Quang – Viện trưởng Viện Kiến trúc Quốc gia, Chủ tịch hội đồng chủ trì cuộc họp.

Toàn cảnh Hội đồng đánh giá nghiệm thu

Thay mặt nhóm thực hiện nhiệm vụ, Ths.KTS Nguyễn Quốc Hoàng – Trưởng phòng Phòng Quản lý khoa học – kỹ thuật và dữ liệu báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ. KTS cho biết Nhiệm vụ Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiền để xây dựng cơ sở dữ liệu Kiến trúc Quốc gia là nhiệm vụ quan trọng của Bộ Xây dựng phải thực hiện 2021-2025 để tổ chức Hệ thống CSDL làm nền tắng cho chuyển đổi số lĩnh vực xây dựng; thực hiện đường lối của Đảng, Nhà nước chỉ đạo tại Nghị quyết đại hội Đảng, Luật Kiến trúc và các chỉ thị, nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ giao các Bộ ngành, địa phương phải quyết liệt thực hiện chủ trương chuyển đổi số đưa Việt Nam phát triển nhanh, mạnh và bền vững.

Ths.KTS Nguyễn Quốc Hoàng trình bày báo cáo

Trong thời gian qua (2024-2025), nhóm đã thực hiện đánh giá, khảo sát tình hình chuyển đổi số trong ngành xây dựng; hiện trạng công tác xây dựng cơ sở dữ liệu kiến trúc; hiện trạng quản lý vận hành, khai thác cơ sở dữ liệu kiến trúc toàn quốc, tình hình chuyển đổi số ở các địa phương trong ngành xây dựng.

Kết quả khảo sát đánh giá hiện trạng ha tầng công nghệ và cơ sở dữ liệu kiến trúc toàn quốc tại thời điểm năm 2024 (63 tỉnh thành) cho thấy phần lớn các địa phương chưa có đơn vị chịu trách nhiêm thu thập cơ sở dữ liệu kiến trúc, cũng như quy trình lưu trữ và quản lý dữ liệu. Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu chủ yếu theo phương pháp thủ công, không có phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu kiến trúc. Hình thức dữ liệu hiện đang lưu trữ chủ yếu là hồ sơ giấy và dạng điện tử (ảnh, file word, PDF…)

Tại các Sở Xây dưng địa phương, phần lớn thiếu hệ thống quản lý phù hợp, thiếu nguồn nhân lực chuyên môn, thiếu hệ thống lưu trữ, không có quy trình rõ ràng, thiếu kinh phí, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan và khó khăn trong tiếp cận nguồn dữ liệu, Công nghê và thiết bị lạc hậu, dữ liêu thu được không đồng bô, dễ bị mất hoặc hư hỏng.

Tinh hình chuyển đổi số tại các đia phương cho đến thời điểm hiện tại (10/2025), cho thấy đã có những biến chuyển to lớn khi Nghị quyết 57 đặt ra yêu cầu “hạ tầng là then chốt, dữ liệu là tư liệu sản xuất chính, thể chế là tiên quyết”, nhiều địa phương đang ở trạng thái chuyển tiếp: từ “có hạ tầng” sang “hạ tầng số, nền tảng dữ liệu, kết nối và khai thác dữ liệu” thực sự.

Đã có sự chuyển biến mạnh mẽ ở các đô thị lớn (TPHCM, Đà Nẵng, Hà Nội) với ứng dụng di động và IOC. Các địa phương đã có hướng đi chuyên sâu về kỹ thuật số. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa địa phương có điều kiện (vùng đô thị, tính/thành kinh tế mạnh) và vùng khó khăn (vùng sâu, vùng xa, ha tầng yếu, nhân lực hạn chế) là rõ ràng – tạo rủi ro ngăn cản sự đồng đều trong thực hiện.

Về cơ sở pháp lý, hiện nay, khung pháp lý Việt Nam đã tạo nền tảng, nhưng còn tồn tại khoảng trống về tính đồng bộ, chi tiết hóa và khả thi triển khai. Khoảng trống pháp lý cần được bổ sung hoặc làm rõ để đảm bảo việc thu thập, chuẩn hóa và quản lý dữ liệu kiến trúc đượcthực hiện một cách đầy đủ và hiệu quả trong khuôn khổ pháp luật hiện hành. Việc hoàn thiện chính sách pháp luật không chỉ khắc phục hạn chế hiện tại mà còn biến CSDL kiến trúc quốc gia thành “xương sống” cho phát triển bền vững, với lợi ích kinh tế và xã hội.

Nhóm đã tổng hợp bài học kinh nghiệm từ các đề án chuyển đổi số trong nước cũng như kinh nghiệm quốc tế về xây dựng cơ sở dữ liệu.

Nhóm cũng đề xuất mô hình kiến trúc dữ liệu tích hợp 15 cơ sở dữ liệu (từ kiến trúc tổng quát đến các cuộc thi/giải thưởng) và một số giải pháp như: Xây dưng cấu trúc tổng thể (phân lớp dữ liệu, cơ chế phân quyền truy cập, bảo mật thông tin và chia sẻ giữa trung ương – địa phương – công đồng); Quy định tiến trình khai thác dữ liệu: thu thập – xử lý – lưu trữ – quản lý – khai thác – cập nhật thường xuyên; Bổ sung bối cảnh hóa dữ liệu (gắn kết chặt chẽ với khung pháp lý hiện hành, điều kiện kinh tế – xã hội và đặc điểm phát triển đô thị tại Việt Nam, đồng thời tham chiếu kinh nghiệm quốc tế về quản trị đô thị thông minh).

Tại cuộc họp, các chuyên gia, thành viên Hội đồng nhất trí với sự cần thiết nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn để xây dựng cơ sở dữ liệu kiến trúc quốc gia, đồng thời đánh giá nhóm nghiên cứu đã có nhiều cố gắng, chất lượng khoa học cao và đảm bảo tiến độ theo yêu cầu; hồ sơ đầy đủ, tuân thủ đúng các quy định hiện hành; cách tiếp cận và phương pháp thực hiện nhiệm vụ phù hợp.

Bên cạnh những ưu điểm đã đạt được, các chuyên gia thành viên Hội đồng cũng nêu ra một số nội dung cần hoàn thiện đối với báo cáo. Cụ thể: cần bổ sung một số mô hình tham chiếu vào khung cơ sở dữ liệu; nội dung các chương cần cân bằng hơn, bổ sung một số tiêu chuẩn về dữ liệu; bổ sung cơ sở lý thuyết, tính bản quyền của dữ liệu; tập trung thêm vào giải pháp lõi.

Viện trưởng Viện Kiến trúc Quốc gia Hồ Chí Quang

Kết luận cuộc họp, Chủ tịch Hội đồng, Viện trưởng Viện Kiến trúc Quốc gia Hồ Chí Quang đã tổng hợp những ý kiến đóng góp của các chuyên gia, thành viên Hội đồng, đồng thời bổ sung một số ý kiến và đề nghị nhóm nghiên cứu tiếp thu đầy đủ, khẩn trương chỉnh sửa, biên tập, nâng cao hơn nữa chất lượng báo cáo; nhanh chóng hoàn thiện để thực hiện các bước tiếp theo theo quy định.

Hội đồng nhất trí nghiệm thu, đề tài được thông qua và đạt loại Khá.

PV

Share

Tin liên quan

Đề xuất một số giải pháp trang bị hệ thống PCCC cho khu vực sạc xe điện tại nhà chung cư

Đề xuất một số giải pháp trang bị hệ thống PCCC cho khu vực sạc xe điện tại nhà chung cư

(KTVN 262) Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính ngày càng cấp bách,...
Một số định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy đối với khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe tại tầng hầm nhà cao tầng, khu dân cư tại Việt Nam

Một số định hướng chính sách phòng cháy chữa cháy đối với khu vực sạc xe điện và bãi đỗ xe tại tầng hầm nhà cao tầng, khu dân cư tại Việt Nam

(KTVN 262) Trước thực trạng phát thải khí nhà kính, ô nhiễm môi trường sống, biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp, khó...
Bối cảnh và vấn đề đặt ra đối với phát triển hạ tầng bến, bãi đỗ xe và nhà ở cao tầng trong phòng cháy nổ trước nhu cầu sử dụng xe điện tại Việt Nam

Bối cảnh và vấn đề đặt ra đối với phát triển hạ tầng bến, bãi đỗ xe và nhà ở cao tầng trong phòng cháy nổ trước nhu cầu sử dụng xe điện tại Việt Nam

(KTVN 262) Sự chuyển đổi phương tiện giao thông từ xe chạy nguyên liệu hóa thạch sang xe chạy điện là xu thế tất yếu...
Phát triển hạ tầng giao thông tĩnh và phòng chống cháy nổ  cần cách tiếp cận đồng bộ

Phát triển hạ tầng giao thông tĩnh và phòng chống cháy nổ cần cách tiếp cận đồng bộ

(KTVN 262) Sự gia tăng của xe điện trong các đô thị lớn đang diễn ra nhanh hơn đáng kể so với khả năng thích...