Vị trí Hà Nội và mối liên hệ vùng qua cách tiếp cận tĩnh và động

Thành phố Hà Nội lấy ý kiến của nhân dân đối với Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Tài liệu có 18 bản vẽ và 1.100 trang thuyết minh. Bài viết đóng góp vào nội dung bản vẽ số 1: “Tổng quan Vị trí và mối liên hệ vùng”.

Vị trí Hà Nội trong trạng thái tĩnh

Tài liệu Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn trăm năm (gọi tắt là TLQH) hiện đang trình bày nội dung “Tổng quan Vị trí và mối liên hệ vùng” với 6 hình vẽ: Vị trí Hà Nội trong 7 vùng kinh tế, Hà Nội trong vùng Thủ đô, Hà Nội trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, Sơ đồ mạng lưới đường bộ, Sơ đồ mạng lưới đường sắt kết nối với các vùng lân cận và Bản đồ địa giới hành chính của 126 xã phường Hà Nội.

Các bản vẽ này biên tập từ các bản đồ hành chính và các bản đồ trình bày tương tự trong các hồ sơ Quy hoạch chung Thủ đô (QHC 1259-2011) công bố cách đây 15 năm; Hồ sơ quy hoạch vùng Thủ đô cách đây 10 năm (2016-2026) và hồ sơ Quy hoạch Thủ đô mới công bố cách đây 1 năm (tháng 1/2025).

Trong cách mô tả truyền thống (áp dụng trong các quy hoạch trước đây), các yếu tố như điểm (point), đường (line) và vùng (zone) thường được thể hiện ở trạng thái tĩnh. Thông tin đưa ra khá đơn giản, chưa phản ánh được mối quan hệ tương tác, lợi thế hay bất lợi, cũng như năng lực mạnh hay yếu của từng khu vực. Đặc biệt, cách tiếp cận này không thể mô phỏng sự dịch chuyển và biến đổi theo thời gian, nên khó nhận diện được cơ hội và thách thức trong tiến trình phát triển ở các giai đoạn: ngắn hạn (1-5 năm), trung hạn (5-20 năm) và dài hạn (30-50-100 năm).

Vị trí Hà Nội và mối liên hệ vùng đã được nhận diện theo trạng thái động từ hơn 1000 năm trước

Năm 1010, Vua Lý Thái Tổ rời Hoa Lư để định đô ở Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, Ngài đã nhận định nơi đây là “ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” (trích Chiếu dời đô). Chỉ vài lời vàng ngọc đã thể hiện những ý nghĩa sâu sắc, tầm nhìn thời đại của một vị vua anh minh, diễn đạt những lý do xác đáng khi chọn kinh đô mới để mưu nghiệp lớn, tính kế phồn vinh, trường kỳ cho muôn đời sau. Chiếu dời đô là áng hùng văn thiên cổ đã phân tích sự đắc địa của Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội: không chỉ là một nơi chốn ổn định vững vàng mà còn thích ứng với chuyển dịch triền miên của vũ trụ. Cảnh vật sông núi phồn thịnh trong vần vũ gió mưa sấm chớp để thành nơi sáng sủa cho dân cư được ấm no, vượt qua trùng điệp thử thách thiên tai, giặc giã, dịch bệnh; Giữ cho quốc thái dân an giữa muôn vàn đổi thay dữ dội của thế gian và thời gian tiếp nối không ngừng. Hà Nội hôm nay đã trải qua 16 năm đầu của Thiên niên kỷ thứ hai (1010 -2026) và chuẩn bị cho kịch bản phát triển trăm năm tới, các thế hệ tiếp nối đã kế thừa di sản của tổ tiên tích lũy ngàn năm trước, nay lại đối mặt với những cơ hội thách thức của nhiều năm tiếp theo, thì nên nhìn nhận nơi chốn này theo cách các tiền nhân để lại và thêm vào nhiều giá trị mới.

Hà Nội nằm trong lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình, lớn nhất đất nước với diện tích gần 89.000km2, dân số gần 33 triệu người và tổng đương lượng 100 tỷ m3 nước. Hiện tại khu vực này đang đối măt với những thách thức của biến đổi khí hậu toàn cầu với mức độ ảnh hưởng nằng, đứng thứ 13 trên thế giới (WB).

Trong bối cảnh nước biển dâng, nước ngập mặn sẽ lấn sâu vào lưu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến nước sạch dùng cho sinh hoạt và sản xuất. Các yếu tố mưa bão, ngập lụt, hạn hán, ô nhiễm, nhiễm mặn tác động trực tiếp tới Hà Nội và vùng Thủ đô. Bên cạnh những thách thức, Hà Nội có thuận lợi là trung tâm của hành lang kết nối giao thương sôi động. Những tuyến đường sắt tốc độ cao kết nối Hà Nội tới các cửa khẩu và cảng quốc tế quan trọng sẽ là lợi thế để xây dựng kế hoạch phát triển năng động, biến đổi từng ngày.

Không gian liên kết Hà Nội với các địa phương mở rộng khi khoảng cách rút ngắn nhờ gia tăng tốc độ di chuyển. Năm 2007, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) công bố tài liệu Nghiên cứu phát triển đô thị toàn diện Hà Nội (HAIDEP). Trong nghiên cứu này, JICA xây dựng các mô hình di chuyển khác nhau, nhằm so sánh sự thay đổi trong cùng một khoảng thời gian giữa hai kịch bản: có đầu tư và không đầu tư các công trình hạ tầng giao thông. Thực tế Hà Nội đã đầu tư hàng chục tỷ USD đầu tư vào đường xá, cầu cống, ĐSĐT trong giai đoạn 2010-2025, nhưng không đồng bộ nên thời gian di chuyển 30km từ trung tâm Hà Nội tới sân bay Nội Bai không giảm đi mà còn tăng gấp đôi (từ 35 phút lên 50 phút).

Liên kết Hà Nội với các đô thị lân cận thay đổi khi tốc đô di chuyển nhanh hơn

Nhóm nghiên cứu hợp tác quốc tế CitySolution mô phỏng vùng di chuyển trong khoảng thời gian 30 và 60 phút của JICA để dự báo vùng di chuyển mới vào năm 2030-2035 (nếu có một số tuyến ĐSĐT trọng yếu kết nối với tuyến đường sắt tốc độ cao được đưa vào hoạt động): Tăng tốc độ di chuyển làm không gian liên kết Hà Nội và các vùng lân cận thay đổi đáng kể.

Khi các trung tâm dân cư hình thành hệ thống di chuyển nội vùng và liên vùng trong khoảng thời gian 30 phút hoặc 60 phút thì mạng lưới liên kết các trung tâm ấy không còn giới hạn bởi ranh giới hành chính. Với hệ thống liên kết đa phương thức gồm đường sắt, đường bộ, đường thủy và hàng không tầm thấp, các địa phương trong vùng Thủ đô sẽ có điều kiện chia sẻ và khai thác nguồn lực chung một cách hiệu quả hơn. Ví dụ như sẽ có rất nhiều quỹ nhà ở các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Phú Thọ, hoàn toàn có thể bổ sung nơi ở cho hơn 10-15 triệu cư dân Vùng Thủ đô. Điều này không chỉ phân bổ không gian định cư mà còn tạo ra những vành đai Xanh sinh thái bao quanh các đô thị, tạo thành vành đai luân chuyển vật chất đô thị/nông thôn, tái chế nước thải, rác hữu cơ, cung ứng thực phẩm nước sạch, tạo lập mạng lưới các đơn vị tự chủ sinh thái tuần hoàn bền vững. Mạng lưới ĐSĐT và đường sắt quốc gia sẽ tạo mối liên kết tương tác hỗ trợ lẫn nhau trong vùng Thủ đô, biến Hà Nội thành trung tâm dẫn dắt phát triển cho cả vùng, tạo ra động lực cho các địa phương trong vùng cùng phát triển với những thế mạnh riêng, đúng với tinh thần chỉ đạo của Tổng bí thư Tô Lâm trong cuộc làm việc với Đảng bộ Hà Nội đầu năm 2026:“Hà Nội không thể phát triển theo tư duy của một địa phương lớn, mà phải được định vị và vận hành như một trung tâm kiến tạo phát triển quốc gia, có vai trò dẫn dắt và lan tỏa. Mỗi vấn đề Hà Nội giải quyết hiệu quả sẽ có tác động lớn đến cách nghĩ, cách làm của các địa phương khác.”

Không gian sống khác với không gian vẽ trên bản quy hoạch

Định vị Hà Nội với các vùng lân cận không chỉ là địa danh mà là vùng nguyên liệu, nguồn nhân lực, vành đai cung ứng lương thực thực phẩm, cung ứng hàng hoá, liên kết công kỹ nghệ nội địa và xuất khẩu ảnh hưởng qua lại của các địa phương tới Hà Nội; Năng lực lưu thông các địa phương với nhau, các địa phương với Hà Nội và các địa phương với các quốc gia lân cận và quốc tế… Đó là những yếu tố đầu vào cần được xác định để soạn thảo các kế hoạch phát triển phù hợp, thích ứng và khả thi.

So sánh bản đồ liên hệ vùng trong Quy hoạch Thủ đô với Atlat Nhật Bản

Bản vẽ “Mối liên hệ vùng” của TLQH có đặt tên các đô thị kế cận Hà Nội trong bán kính 100km: Thái Nguyên là trung tâm y tế, giáo dục chất lượng cao và công nghiệp; Vĩnh Yên là trung tâm nghỉ dưỡng-công nghiệp, Việt Trì là lễ hội, Bắc Ninh là công nghiệp-dịch vụ, Chí Linh là tâm linh-sinh thái, Hải Dương là dịch vụ hỗ trợ-công nghiệp, Hưng Yên là văn hoá lịch sử, Hoà Bình là nghỉ dưỡng-du lịch sinh thái; Phủ Lý là y tế cấp vùng… Thực tế thì địa phương nào cũng có giáo dục, y tế, nghỉ dưỡng, văn hoá lịch sử, công nghiệp và bảo vệ môi trường sinh thái. Các ngành nghề của các địa phương cũng chỉ mang lại cơ hội sinh kế cho một bộ phận cư dân… còn gần 10 triệu cư dân Thủ đô và hàng chục triệu cư dân các tỉnh lân cận đều phải ăn uống hàng ngày. Sức khỏe toàn dân phụ thuộc vào chất lượng thực phẩm tươi sống, còn chất lượng thì phụ thuộc vào thời gian vận chuyển từ nơi sản xuất tới người dùng: đi càng lâu thì chất lượng càng giảm, lạm dụng hoá chất bảo quản thì nguy hại tới sức khoẻ. Dòng vật chất ấy lưu chuyển rất mạnh mẽ, tạo ra mối liên hệ thiết yếu tới cuộc sống hàng ngày tại Hà Nội và các địa phương kế cận, không được thể hiện trong bản vẽ thì thông tin về nơi nghỉ dưỡng sinh thái, giáo dục chất lượng cao, hay tâm linh lễ hội… mới chỉ là sơ đồ hướng dẫn du lịch.

Năm 2015, các thành viên tổ soạn thảo Luật Quy hoạch 2017 đã tới Nhật bản khảo sát kinh nghiệm lập Quy hoạch phát triển toàn diện Quốc gia (Japan’s Comprehensive National Development Plans-CNDPs) tại Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch (MLIT) và được giới thiệu “Tập bản đồ quốc gia Nhật Bản (Atlat)”, trong đó có những thông tin quan trọng được cập nhật thường xuyên để các cơ quan liên quan xây dựng quy hoạch phát triển quốc gia, địa phương cũng như chuyên ngành. Bản đồ phân bố trồng trọt và chăn nuôi trong Atlat xuất bản năm 1990, làm cơ sở để lập CNDPs lần thứ 5 (1998) mang tên “Thiết kế vĩ đại cho thế kỷ 21” định hướng phát triển phi tập trung, đa diện và tiếp tục cập nhật vào năm 2015 để thích ứng với suy giảm dân số, hướng tới các khu vực “gọn nhẹ và kết nối”, khuyến khích sự tương tác và phát triển kinh tế địa phương bền vững. Tài liệu này có thể gợi ý cho việc trình bày Dữ liệu đầu vào Quy hoạch tổng thể phát triển Thủ đô tầm nhìn 100 năm.

Cơ quan Thông tin Địa lý Nhật Bản (GSI-Geospatial Information Authority of Japan) đã xuất bản ấn bản đầu tiên của Tập bản đồ quốc gia Nhật Bản vào năm 1977, và ấn bản sửa đổi vào năm 1990. GSI có lịch sử hình thành từ năm 1869 và trở thành Viện Khảo sát địa lý năm 1945, có thẩm quyền theo Luật Khảo sát, tiến hành các hoạt động khảo sát và lập bản đồ quốc gia, tạo cơ sở cho việc quản lý đất đai. Việc chuẩn bị các bản đồ cơ sở khác nhau, đặc biệt là loạt bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25.000 bao phủ toàn quốc, là một nhiệm vụ quan trọng khác của GSI. Những bản đồ này được sử dụng làm cơ sở cho bản đồ chuyên đề (Bản đồ sử dụng đất, Bản đồ hiện trạng đất, Bản đồ hiện trạng đất núi lửa, Bản đồ các đứt gãy hoạt động trong khu vực đô thị,…), là công cụ hiệu quả cho nỗ lực phòng chống thiên tai và phát triển quốc gia. Các bản đồ này được cập nhật định kỳ hàng năm, tập hợp thông tin toàn diện về tự nhiên cũng như thành tựu phát triển kinh tế văn hoá xã hội Nhật Bản, làm cơ sở để lập 6 bản Quy hoạch phát triển toàn diện Quốc gia (Japan’s Comprehensive National Development Plans -CNDPs) công bố các năm 1962, 1969, 1977, 1987, 1998, 2015.

Trần Huy Ánh – Uỷ viên thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội, Thành viên Hội đồng Khoa học Tạp chí kiến trúc Việt Nam – Viện Kiến trúc Quốc gia (Bộ Xây dưng)

Share

Tin liên quan

KeGa Villa

KeGa Villa

(Văn bản mô tả do KTS cung cấp) Tọa lạc giữa biển và một công viên quốc gia ở Kê Gà, KeGa Villa được hình...
Giải thưởng Pritzker 2026: Kiến trúc sư Smiljan Radić người Chile giành giải “Nobel” của ngành kiến ​​trúc

Giải thưởng Pritzker 2026: Kiến trúc sư Smiljan Radić người Chile giành giải “Nobel” của ngành kiến ​​trúc

Kiến trúc sư người Chile Smiljan Radić, người nổi tiếng với những thiết kế mang tính thử nghiệm, bao gồm cả gian triển lãm hình...
Vì sao màu trắng vẫn là lựa chọn tinh tế nhất năm 2026

Vì sao màu trắng vẫn là lựa chọn tinh tế nhất năm 2026

Nội thất toàn màu trắng đã bị cho là “lỗi thời” nhiều lần đến nỗi không ai đếm xuể. Thế nhưng, năm này qua năm...
Sự trở lại của bếp khép kín vào năm 2026

Sự trở lại của bếp khép kín vào năm 2026

Không gian sống mở không hề biến mất – nhưng nó đang được làm mới. Trong các bài báo gần đây về các công trình...