09/09/2019

Vật liệu xây dựng siêu nhẹ: Đường vào thị trường vẫn còn gian nan

Nhu cầu xây nhà bằng vật liệu 3D, vật liệu nhẹ đang trở thành xu hướng mới trên thế giới và ở Việt Nam với những hiệu quả kinh tế vượt trội như giảm chi phí, thi công nhanh, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, con đường đưa các sản phẩm mới này vào thị trường xây dựng vẫn còn không ít chông gai.

Vật liệu siêu nhẹ được ứng dụng đa dạng trong thi công nội thất trong văn phòng, ngoại thất toà nhà.

Vật liệu siêu nhẹ được ứng dụng đa dạng trong thi công nội thất trong văn phòng, ngoại thất toà nhà

Nhiều ưu thế vượt trội

Hiện nay tại Việt Nam, đầu tư xây dựng chiếm tỷ trọng khoảng 70% đầu tư xã hội, trong đó vật liệu xây dựng chiếm từ 30-50% tổng đầu tư xây dựng.

Trong bối cảnh các vật liệu tự nhiên ngày càng cạn kiệt do nhu cầu khai thác tối đa của con người, ngành xây dựng đã bắt đầu xuất hiện xu hướng sử dụng các vật liệu xây dựng siêu nhẹ nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực đối với môi trường.

Các vật liệu xây dựng siêu nhẹ bao gồm vật liệu kết cấu tường, vật liệu cách nhiệt, tấm lợp, cửa sổ, cửa ra vào, mặt tiền, vách thạch cao, trần nhà, sàn nhà, các sản phẩm từ xi măng và đá siêu nhẹ. Những vật liệu này thường có xếp hạng năng lượng thấp hơn so với vật liệu truyền thống. Do đó, trong suốt vòng đời, vật liệu siêu nhẹ sẽ sử dụng năng lượng ít hơn.

Mặt khác, vật liệu siêu nhẹ còn có thể phản ứng nhanh hơn với những thay đổi về nhiệt độ, có khả năng làm mát nhanh ở những vùng khí hậu nóng. Vật liệu siêu nhẹ tốn ít chi phí hơn để sản xuất và vận chuyển, đồng thời tốn ít diện tích để cất trữ tại công trường.

Trên thị trường Việt Nam hiện nay đã có nhiều doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu các loại vật liệu siêu nhẹ như Viglacera với sản phẩm tấm panel bê tông khí chưng áp, Đạt Phú Thịnh với gạch nhựa vinyl, Công ty Vĩnh Cửu với gạch nhẹ, Thanh Phúc Group với đá siêu nhẹ…

Điểm chung của các sản phẩm này là đều có ứng dụng rất đa dạng và thích hợp trong việc hoàn thiện công trình như ốp tường trang trí, lát nền sân, ban công, vườn, lối đi,  làm tường rào, cột…

Bên cạnh đó, vật liệu nhẹ vừa mang lại hiệu quả kinh tế như giảm được chi phí nền móng, quá trình thi công nhanh, vừa bảo vệ môi trường mà vẫn đẹp và bền vững theo thời gian.

Do đó, xây nhà bằng vật liệu nhẹ đang là một xu hướng được nhiều người lựa chọn cho công trình của mình.

Theo đánh giá của giới chuyên gia vật liệu xây dựng, không giống như các vật liệu tự nhiên, vật liệu siêu nhẹ, trong đó có đá siêu nhẹ, ngoài những hoa văn cố định, nhà sản xuất có thể tự thiết kế hoa văn theo nhu cầu và thị hiếu của thị trường. Màu sắc của vật liệu siêu nhẹ cũng đa dạng hơn nhờ khả năng pha trộn, phối màu để tạo ra những tông màu phù hợp với sở thích của khách hàng.

Các chuyên gia cũng cho rằng, bản thân đá tự nhiên đẹp, sang trọng, thích hợp trong trang trí và xây dựng các loại công trình nhưng lại quá nặng, rất vất vả trong quá trình vận chuyển, thi công.

Ông Trần Duy Phúc, Phó Tổng giám đốc Thanh Phúc Group – đơn vị đầu tiên sở hữu công nghệ sản xuất đá siêu nhẹ tại Việt Nam, cho biết vật liệu siêu nhẹ nói chung, đá siêu nhẹ nói riêng có mẫu mã đa dạng cũng như kích thước không giới hạn nên thi công và ứng dụng rất lớn mà không gặp khó khăn hạn chế như đá tự nhiên. Thêm vào đó, vật liệu siêu nhẹ giúp rút ngắn thời gian thi công, một người chỉ cần 30 phút thi công là xong một bức tường lớn.

Theo tìm hiểu, hiện nay, các bước phát triển từ khâu đầu tư dây chuyền thiết bị đến khâu sản xuất, kiểm tra giám sát chất lượng sản phẩm, quảng bá và tiếp cận thị trường đều được doanh nghiệp này thực hiện nghiêm ngặt theo quy trình sản xuất của Nhật Bản, nhằm đảm bảo tính thẩm mỹ cũng như chất lượng sản phẩm khi cung ứng ra thị trường.

Cần sớm hoàn thiện pháp luật

Vật liệu siêu nhẹ hiện đang được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, từ thi công nội thất, ngoại thất, đến trang trí văn phòng, sảnh công ty, tiền sảnh các công trình lớn, biệt thự, resort, khu vui chơi giải trí, công viên, nhà ga, sân bay, khách sạn, phòng karaoke…

Thị trường vật liệu xây dựng siêu nhẹ vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam do tâm lý ngại thay đổi của khách hàng

Thị trường vật liệu xây dựng siêu nhẹ vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam do tâm lý ngại thay đổi của khách hàng

Tuy nhiên, việc ứng dụng vật liệu siêu nhẹ tại Việt Nam vẫn còn chưa phổ biến. Điển hình như gạch nhẹ mới chiếm tỷ lệ sử dụng khoảng 8-9% trên tổng số vật liệu xây không nung, trong khi mục tiêu đề ra là trên 20%. Điều đáng nói, đây là chỉ tiêu quan trọng thứ hai trong chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Theo các chuyên gia, việc các vật liệu mới khó chen chân vào trên thị trường vật liệu xây dựng hiện nay xuất phát từ nhiều nguyên nhân mà trước hết nằm ở tâm lý ngại thay đổi và lợi ích của việc sản xuất vật liệu cũ bị ảnh hưởng khi thay thế.

Bên cạnh đó, hiện nay hệ thống pháp luật quy định cho các vật liệu mới chưa hoàn thiện, dẫn đến quá trình ứng dụng nảy sinh nhiều vấn đề. Trên thực tế, đôi khi những vấn đề này không bắt nguồn từ doanh nghiệp nhưng lại khiến doanh nghiệp bị ảnh hưởng và giá trị của các vật liệu mới bị nhìn nhận sai lệch, từ đó cản trở khả năng lan toả của sản phẩm mới.

Để tìm hướng đi cho các vật liệu xây dựng mới như vật liệu siêu nhẹ, giới chuyên gia cho rằng, giải pháp trước hết là Bộ Xây dựng cần sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn hướng dẫn, định mức kinh tế kỹ thuật quy định việc xử lý, sử dụng tro, xỉ làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, sử dụng trong các công trình xây dựng, giao thông san lấp mặt bằng.

Đồng thời, cần thiết có quy định bắt buộc các dự án xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước phải sử dụng các sản phẩm mới để tiết kiệm chi phí, rút ngắn thời gian thi công, tiết kiệm năng lượng.

Theo báo cáo đánh giá về tình hình sản xuất, xuất khẩu mặt hàng vật liệu xây dựng của Bộ Xây dựng, năng lực sản xuất của một số sản phẩm chủ yếu của ngành như sau: xi măng: 89 triệu tấn/năm (bằng 2% sản lượng xi măng thế giới); gạch ốp lát: 705 triệu m2/năm (bằng 5% sản lượng toàn thế giới); kính xây dựng: 200 triệu m2/năm (bằng 2% sản lượng kính toàn thế giới); sứ vệ sinh: 20 triệu sản phẩm/năm (bằng 1,5% sản lượng toàn thế giới); đá ốp lát: 16 triệu m2/năm;…

Nhu cầu một số loại vật liệu chính của Việt Nam đến năm 2020, cụ thể vật liệu xây: 30 tỉ viên, vật liệu lợp: 59,9 triệu m2, đá xây dựng: 181 triệu m3, cát xây dựng: 130 triệu m3.

Cafeland

Bình luận