05/09/2014

Nông thôn mới sau 3 năm thực hiện – Triển vọng từ thực tiễn

Nhìn lại hơn 3 năm đi vào triển khai chương trình nông thôn mới (NTM) trên diện rộng, chúng ta đã đạt được một số thành quả nhất định, bộ mặt nông thôn được đổi thay đáng kể. Tuy nhiên, khi thực hiện một chương trình lớn, đồng loạt ở tất cả các xã trên cả nước như vậy, không tránh khỏi những khó khăn, hạn chế. Từ những tiêu chí, hướng dẫn đến việc thực thi và áp dụng với các địa phương trong cả nước cần nhiều nỗ lực hơn nữa để có thể tạo nên thế và lực cho chương trình NTM, trong đó đối tượng thụ hưởng chính là người nông dân.

 

trienvong

Mô hình chuyên canh chè chất lượng cao tại tỉnh Thái Nguyên

NHỮNG VƯỚNG MẮC CƠ BẢN

Nhận thức có thể coi là trở ngại ban đầu. Tại một số địa phương, cán bộ và người dân vẫn nghĩ chương trình nông thôn mới là một chương trình đầu tư, có tiền của Nhà nước thì làm, chưa có tiền thì để… chờ. Vì vậy, tiến độ tại một số nơi còn chậm. Ngoài ra, công tác chỉ đạo điều hành một số bộ máy của các ban ngành còn thiếu nhịp nhàng bởi đây là lần đầu tiên chúng ta triển khai một chương trình có quy mô lớn nên chắc chắn ít nhiều còn thiếu kinh nghiệm.

Về hệ thống cơ chế chính sách, chương trình NTM dựa trên nguyên tắc cơ bản đó là giao quyền làm chủ cho người dân và cộng đồng nông thôn. Do vậy khi người dân thực sự là chủ thể, họ sẽ triển khai chương trình một cách bền vững nhất. Mặc dù vừa qua cơ chế chính sách của chúng ta đã có những điều chỉnh, sửa đổi nhưng vẫn còn chưa bắt kịp nhu cầu thực tiễn, dẫn đến việc triển khai gặp nhiều khó khăn. Hệ thống cơ chế chính sách chưa chuyển hóa cơ chế người dân làm chủ thể, ví dụ như việc yêu cầu công trình phải có đấu thầu, có tổ chức trong khi nhiều công trình, dự án giao cho người dân trực tiếp triển khai sẽ hiệu quả hơn nhiều. Bên cạnh đó, văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành đôi khi cũng không thống nhất với nhau dẫn đến một số vướng mắc. Sau khi có thêm văn bản mới ban hành, vấn đề dần được tháo gỡ, đặc biệt là trong công tác tài chính kế toán và triển khai.

Từ năm 2009 bộ tiêu chuẩn 19 tiêu chí  đã được ban hành và sửa đổi 5 tiêu chí năm 2013. Về cơ bản các tiêu chí trên cũng đã đáp ứng được yêu cầu địa phương. Tuy nhiên cần khẳng định rằng, một bộ tiêu chí ban hành cho cả nước thì chắc chắn khi áp dụng vào 9.052 xã sẽ cần có thêm các điều chỉnh cho hoàn toàn phù hợp, đặc biệt là các tiêu chí về cơ sở văn hóa, trường học và đường giao thông. Một số ý kiến của các xã miền núi khó khăn cho rằng chuẩn đó quá cao, dẫn đến lãng phí. Ví dụ, một nhà văn hóa thôn yêu cầu phải có 75 chỗ ngồi, diện tích khu thể thao tương đương tiêu chuẩn quốc tế, trong khi ở xã miền núi mặt bằng và số lượng cư dân hạn chế, rất khó khai thác hết khả năng sử dụng của công trình. Như vậy để thấy rằng, có một số tiêu chí khi các địa phương áp đặt một cách cứng nhắc vào thực tiễn từng vùng, từng xã sẽ rất khó thực hiện dẫn đến sự lãng phí vì sử dụng không hiệu quả.

Khi tổ chức triển khai chương trình NTM ở chính quyền cấp xã và các ban phát triển thôn, làm sao để họ phát huy vai trò người dân làm chủ. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ xã vẫn còn một số hạn chế vì đây là lĩnh vực còn mới, cấp xã trước giờ chỉ làm công tác tuyên truyền, tổ chức lấy ý kiến của dân là chính. Các công trình, dự án trước đây kể cả chương trình 135, chương trình giảm nghèo cũng chủ yếu cấp huyện làm chủ đầu tư, thậm chí cấp tỉnh. Theo nguyên tắc phân cấp giao quyền chủ động tối đa cho chính quyền cơ sở và người dân, chính quyền xã được làm chủ, tự quyết định phê duyệt đầu tư với công trình nhỏ hơn 3 tỷ đồng. Qua thực tế kiểm tra tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, cán bộ xã có nơi còn chưa phân biệt được đặc điểm các nguồn vốn khác nhau.

Nguồn lực được coi là một trong những khó khăn lớn nhất. Từ năm 2008, khi chúng ta bắt đầu thực hiện chương trình và tính đến thời điểm này, hoàn cảnh kinh tế vĩ mô đã biến đổi nhanh, tác động rất mạnh đến nguồn lực xã hội và ngân sách nhà nước. Giai đoạn 2012 – 2013 ngân sách Trung ương rất khó khăn. Mỗi năm ngân sách chỉ mới hỗ trợ được 1.700 tỷ đồng trong khi nhu cầu bình quân 1 xã đạt chuẩn NTM cần 175 – 200 tỷ đồng và tính ra, đối với 9.052 xã thì con số tổng phải cần đến 75 – 80 tỷ USD.

Bên cạnh nguồn lực ngân sách, các nguồn lực của xã hội hóa, đặc biệt là doanh nghiệp còn nhiều hạn chế. Tuy đã có nhiều cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, xây dựng những công trình phúc lợi cấp xã, nhưng sau 3 năm triển khai, sự tham gia của doanh nghiệp vào các địa phương chưa có nhiều. Một phần do khó khăn chung, nhưng chủ yếu vẫn do cơ chế chính sách, điều kiện đầu tư chưa đủ hấp dẫn. Việc đóng góp của doanh nghiệp vào chương trình NTM quan trọng nhất là tham gia đầu tư vào sản xuất, thúc đẩy phát triển đời sống kinh tế cho người dân.

Chương trình NTM được tính theo tiêu chí, nhưng thực chất mục đích cao nhất chính là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân một cách bền vững. Để chương trình NTM triển khai được hiệu quả bền vững cần hỗ trợ cho người dân phát triển sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề dịch vụ ở nông thôn. Khi người dân có thu nhập, họ sẽ đóng góp ngược lại cho chương trình, tạo ra tính bền vững và phát triển thực sự. Vừa qua, một số địa phương có thể làm hạ tầng, trường học, đường sá rất to lớn. Nhưng, nếu như công trình chưa phục vụ đắc lực cho phát triển sản xuất thì hiệu quả sử dụng sẽ không cao… Sản xuất nông nghiệp trong những năm vừa qua gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề thị trường thiếu tính liên thông, một số mặt hàng chúng ta sản xuất được lại dẫn đến dư thừa.

Một trong những trọng tâm của chương trình NTM là nâng cao sức sản xuất, đây là một vấn đề rất khó khăn trong công tác chỉ đạo. Ở nhiều địa phương, chưa có mô hình, hướng đi bài bản thực sự tạo ra được nguồn thu nhập cho người dân một cách bền vững, đảm bảo việc sản xuất gắn với tiêu thụ theo quy mô. Mặc dù trên địa bàn cả nước đã có một số mô hình ứng dụng công nghệ nhưng trên thực tế nó chủ yếu chỉ dừng ở mức độ mô hình nhỏ, khó triển khai trên diện rộng toàn xã hoặc vùng sản xuất lớn dẫn đến thu nhập sản xuất của người dân còn nhiều bấp bênh. Đây thực sự là một vấn đề khó khăn, là trăn trở và là trách nhiệm rất lớn của những người tham gia xây dựng chương trình này.

 

GIẢI QUYẾT CÔT LÕI

Hiện nay trên địa bàn nông thôn, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu (theo nghĩa rộng bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản). Thời gian tới, chương trình sẽ tập trung vào việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng bền vững. Phải giải quyết trên bài toán tổng thể để có thể tái cơ cấu theo hướng hiệu quả, bền vững, nâng cao giá trị sản xuất thu nhập trên từng diện tích cũng như năng suất lao động. Đạt đến trình độ của các nước phát triển trước hết là trong khu vực và hướng tới cạnh tranh trên thế giới. Tái cơ cấu theo hướng hiệu quả, bền vững đó, chúng ta sẽ tập trung vào 4 biện pháp chính:

Đầu tiên, khâu đột phá đó là ứng dụng khoa học công nghệ. Vừa qua, Quốc hội, Chính phủ đã tổ chức rất nhiều hội thảo đánh giá ứng dụng khoa học công nghệ, những vướng mắc trong việc phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp. Tăng trưởng của ngành nông nghiệp thời gian trước đây phần nhiều nhờ mở rộng diện tích, tăng thêm mùa vụ nhưng vai trò của khoa học công nghệ còn hạn chế. Thực tiễn đã chỉ ra những nơi ứng dụng khoa học công nghệ tốt với hiệu quả sản xuất nông nghiệp rất cao như TP.HCM, Lâm Đồng sẽ đạt được hiệu quả bền vững xây dựng NTM, với thu nhập bình quân đại trà là 282 triệu đồng/ha và 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng/ha. Trong khi đó sản xuất lúa như ĐBSCL hiện nay, thu nhập trung bình năm tối đa 80 triệu, chỉ bằng 1/3 – 1/4 so với các tỉnh trên. Để làm được điều này, đầu tiên cơ chế chính sách, cách thức triển khai phải đẩy mạnh được sự gắn kết, đưa khoa học công nghệ mới ứng dụng vào nông nghiệp. Mô hình doanh nghiệp nông nghiệp Công ty TH True Milk ở Nghệ An có thể coi là một ví dụ tiêu biểu.

Giải pháp thứ 2 là đảm bảo tính liên kết trong sản xuất. Hiện nay chúng ta sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh mở, hội nhập, không chỉ địa bàn trong nước mà có phạm vi toàn thế giới. Hình thức hộ sản xuất nhỏ lẻ trước đây đến thời điểm này cho thấy những vướng mắc và bắt buộc phải có sự liên kết, mở rộng để đảm bảo được sự gắn kết hài hòa giữa người sản xuất với doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ. Vậy, chúng ta tổ chức lại thị trường thế nào, liên kết các hộ ra sao, liên kết từng hợp tác xã và đặc biệt là các doanh nghiệp. Những nơi có sự liên kết tốt với các doanh nghiệp và người dân, sản xuất sẽ bền vững hơn, đạt hiệu quả cao hơn ví dụ như cánh đồng mẫu lớn tại An Giang.

Vấn đề thứ 3, đó là làm sao để thu hút được doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn. Doanh nghiệp không chỉ đầu tư, hợp tác về sản xuất nông nghiệp mà còn cả các ngành nghề phi nông nghiệp, dịch vụ. Trước đây, Nghị định 61 khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn. Tuy nhiên, từ năm 2010 – 2013 vừa qua, hầu hết các địa phương phản ánh vẫn còn khoảng cách lớn giữa quy định và thực tế nghị định đưa ra một loạt cơ chế chính sách hỗ trợ, nhưng hiện vẫn áp dụng cách tổ chức hỗ trợ bình quân, phân tán, mỗi doanh nghiệp được hỗ trợ 1-2 triệu, thủ tục rườm rà… Nhiều địa phương khó khăn, rất cần thu hút doanh nghiệp thì lại thiếu ngân sách để hỗ trợ. Trước phản ánh của địa phương, Chính phủ đã yêu cầu Bộ Kế hoạch Đầu tư ban hành nghị định 210 (năm 2013) với  những điều chỉnh cơ bản về chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp. Thứ nhất, xác định được những ngành hàng, nội dung quan trọng mà nhà nước cần hỗ trợ, như chăn nuôi bò sữa, đánh bắt xa bờ, chế biến lâm sản… Thứ hai, hỗ trợ dài hạn và tập trung. Thứ ba, ngân sách Trung ương chia sẻ với địa phương để hỗ trợ. Với những tỉnh khó khăn, chủ yếu sử dụng ngân sách Trung ương để hỗ trợ doanh nghiệp, còn lại đối với các địa phương khá hơn sẽ sử dụng ngân sách địa phương và chính nội lực xã hội hóa của doanh nghiệp trong đó doanh nghiệp là quan trọng nhất.

Vấn đề thứ tư cần làm ngay là tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Từ năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định 1956 về đào tạo nghề nông thôn. Qua 3 năm triển khai chúng ta đã đạt được một số tiêu chí nhất định về số lượng nông dân được đào tạo nghề, phát triển các ngành nghề, ứng dụng. Tuy nhiên, có một tình trạng đó là chúng ta đào tạo thường theo chỉ tiêu của các trường được giao mà chưa có sự gắn kết từ thị trường lao động, kể cả từ phía người nông dân và doanh nghiệp. Giải pháp sắp tới về đào tạo theo chỉ đạo của Chính phủ, sẽ có hai hướng, một là đào tạo nghề nông nghiệp cho nông dân, để họ trở thành một nông dân chuyên nghiệp, gắn với lợi thế cụ thể của địa phương. Hướng thứ 2 là chúng ta đào tạo nghề cho các doanh nghiệp, nhằm thu hút doanh nghiệp về nông thôn, căn cứ vào nhu cầu của từng doanh nghiệp. Đặc biệt, hiện nay Chính phủ cũng đặt ra đề bài đưa ra những cơ chế chính sách để doanh nghiệp trực tiếp đứng ra đào tạo nghề và nhà nước hoặc địa phương hỗ trợ lại kinh phí và chính sách mà không nhất thiết phải thông qua các trường, hệ thống bộ máy đào tạo của cơ quan Nhà nước. Mô hình công ty bảo vệ thực vật An Giang với hệ thống mạng lưới cán bộ kỹ thuật của công ty gọi là bạn nhà nông (FF) xuống tận nơi cùng với người dân, với hợp tác xã để hướng dẫn người dân quy trình, cách thức chăm sóc, kỹ năng thu hoạch đủ thể hiện rõ thế mạnh và hiệu quả của cách làm này. Vì vậy, có thể đề xuất thêm các chính sách hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp để họ đào tạo cho người nông dân trong liên kết sản xuất, như vậy sẽ đạt hiệu quả cao. Đào tạo cần theo nhu cầu doanh nghiệp và sản xuất chứ không phải theo chỉ tiêu của nhà nước về các ngành nghề giao cho các trường.

Như vậy để thấy rằng, với một chương trình lớn và đa dạng như chương trình NTM để thực sự triển khai hiệu quả, chúng ta phải giải quyết được vấn đề cốt lõi, đó là phát triển sản xuất, có đủ nguồn lực, có được bộ máy tổ chức triển khai năng lực, cơ chế chính sách thống nhất, hài hòa… lúc đó chương trình sẽ triển khai hoàn thiện hơn.

Một trong những trọng tâm của chương trình NTM là nâng cao sức sản xuất, đây là một vấn đề rất khó khăn trong công tác chỉ đạo. Ở nhiều địa phương, chưa có mô hình, hướng đi kết hợp sản xuất kinh doanh thực sự bài bản, tạo ra được nguồn thu nhập cho người dân một cách lâu dài, đảm bảo việc sản xuất gắn với tiêu thụ theo quy mô. Mặc dù trên địa bàn cả nước chúng ta có nhiều mô hình ứng dụng công nghệ cao, nhưng trên thực tế nó chủ yếu chỉ dừng ở mức độ mô hình với quy mô nhỏ, khó nhân diện lên diện rộng cấp vùng dẫn đến thu nhập sản xuất của người dân còn nhiều bấp bênh.

 

Ông Nguyễn Minh Tiến – Phó Cục trưởng, Phó Chánh Văn phòng điều phối, Bộ NN&PTNT

Bình luận