10/09/2014

Kế thừa bản sắc phát triển Thừa Thiên Huế trong tương lai

Huế được biết đến ngoài sự nổi tiếng của các di sản kiến trúc cung điện, lăng tẩm triều Nguyễn còn do cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp đã gắn bó hài hoà với sự hình thành đô thị cổ, đồng thời cấu trúc quy hoạch đô thị chặt chẽ tạo nên sự quyến rũ của thành phố, nơi mà môi trường thiên nhiên và các công trình xây dựng nhân tạo được hoà quyện tạo nên một “bài thơ tuyệt tác về đô thị”. Bản sắc kiến trúc Huế, vừa có nét chung của kiến trúc Á Đông, vừa có nét riêng bởi sự chọn lọc và kế thừa của kiến trúc Việt. Nhận diện và kế thừa bản sắc kiến trúc đô thị Huế là cơ sở vững chắc để phát triển thành phố Huế thành đô thị loại 1 trực thuộc Trung Ương.

NHẬN DIỆN BẢN SẮC KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ HUẾ THÀNH PHỐ DI SẢN

Huế từ lâu đã được xác định là đô thị di sản. Theo nhiều chuyên gia, Huế là biểu trưng duy nhất của Việt Nam cho một chỉnh thể lịch sử đặc trưng, một sản phẩm của nền văn minh đô thị, kết hợp hữu cơ các thành tố vật chất và tinh thần, kiến trúc và văn hóa, trong sự hòa quyện với thiên nhiên. Đô thị di sản Huế hợp nhất những thành phần – di sản, đó là: kiến trúc triều Nguyễn, kiến trúc phố thị, các làng truyền thống, kiến trúc thuộc địa, cảnh quan thiên nhiên hài hòa trong suốt tiến trình đô thị hóa.
Xét trên tổng thể, một đô thị  được công nhận là Thành phố di sản có thể được cấu thành bởi 3 thành tố cơ bản:  di sản thiên nhiên,  di sản kiến trúc , đô thị và di sản văn hóa nhân văn. Dựa trên các tài liệu khảo cứu thời gian vừa qua, có thể xác định rõ Di sản kiến trúc Huế bao gồm: kinh thành (có nhiều công trình song phần lớn diện tích vẫn được dành cho cây cỏ, hồ nước và vườn cảnh), các lăng tẩm (còn nổi tiếng về nghệ thuật tạo cảnh giống các công viên hơn nơi mai táng), quần thể kiến trúc cung đình (kiến trúc cung đình Huế gần gũi với kiến trúc của dân), các khu dân cư  truyền thống kiểu Việt (nhà vườn, nhà rường…), các công trình tôn giáo tín ngưỡng (đàn, miếu… ngoài ra cón có hàng trăm nhà thờ họ, vài chục ngôi đình làng, và trên 100 ngôi chùa). Các ô phố kiến trúc kiểu thuộc địa Pháp trước năm 1945 (cũng đã bản địa hóa )… cùng với rất nhiều các kiểu loại kiến trúc đơn lẻ khác. Mỗi loại hình đều mang trong mình một bản sắc kiến trúc riêng đóng góp các mảng và miếng trong tổng thể khối bản sắc kiến trúc đô thị Huế.

danmgson1

Di tích kiến trúc cầu ngói Thanh Toàn, Tp Huế

Với hệ thống các di sản dày đặc, có thể nhận diện bản sắc đặc trưng riêng của phát triển đô thị. Các yếu tố cơ bản trên bao gồm sự chuyển hóa uyển chuyển hình thái học đô thị giữa các cấu trúc  đô thị qua từng thời kỳ, từ kinh thành đến kiến trúc thời Pháp thuộc và các thời kỳ sau này không có sự đột biến về chiều cao và quy mô công trình lấn át, thậm chí phá vỡ cảnh quan. Bản sắc đô thị cũng bao gồm cả sự hài hòa giữa kiến trúc đô thị và khung cảnh thiên nhiên, trong đó có vai trò chủ đạo của sông Hương, cùng các con kênh khác, ao hồ, đầm phá, cửa biển, Cồn Hến và Dã Viên, đồi Thiên An thuộc vùng đất Tây Nam, núi Ngự Bình. Mô hình phát triển hình thái đô thị theo chiều ngang và phát triển đô thị phi tập trung có sự hiện diện rõ nét của gương mặt thôn dã trong không gian đô thị, không có giới hạn rạch ròi giữa nội thành và ngoại thành, có cả làng trong nội đô và làng ven đô. Cũng có thể nhận rõ một đô thị văn hóa – nhân văn Huế là văn hóa thành thị của đất kinh kỳ chuyên biệt, hàm chứa những tinh hoa, biểu hiện kinh điển và cả sự kế thừa, với vùng lãnh thổ mà nó lan tỏa được bảo lưu đầy đủ. Có thể nói với các đặc trưng nêu trên, bản sắc đô thị Huế là đô thị phân tán, đô thị sinh thái, đô thị xanh, đô thị phong cảnh…

Về kiến trúc, bản sắc kiến trúc thể hiện rõ những nét riêng rất khó gặp tuy có những nét tương đồng với kiến trúc Á Đông. Với kiến trúc cung đình, có sự khác biệt đáng kể giữa kiến trúc Đại nội Huế với các thức kiến trúc Trung Hoa trong đó tiêu biểu là tỉ lệ, hình thức trang trí và xu hướng phát triển thức kiến trúc nở rộng theo phương nằm ngang thay vì theo phương thẳng đứng như kiểu kiến trúc phương Bắc. Hay công trình Ngọ Môn Huế và Ngọ Môn Tử Cấm Thành Bắc Kinh, tuy có sự tương đồng về tên gọi nhưng hình thức kiến trúc dựa trên triết lý xây dựng có sự khác biệt rõ rệt.

Ngoài các kiến trúc triều Nguyễn, kiến trúc phố thị (4 ô phố trong kinh thành, hình thành từ cuối thế kỷ XIX, là một ví dụ khá sớm về kiểu quy hoạch theo ô bàn cờ), phải rất lưu ý rằng các làng ven kinh thành như Kim Long, Vĩ Dạ, An Cựu, Nguyệt Biều… là những thành phần hữu cơ của cơ thể kinh đô Huế, góp phần tạo nên tính duy nhất cho đô thị này, nơi có sự chuyển hóa tự nhiên từ kiến trúc kinh thành sang kiến trúc phố thị, kiến trúc các làng ven. Các làng ven tiếp biến lại chuyển hóa sang các làng xã ngoại vi. Những làng Lại Ân, Thanh Tiên, Dương Nỗ, Chiết Bi, Dưỡng Mong, Dạ Lê Chánh, Hương Cần, Ngọc Anh… đang mang trong mình một quỹ kiến trúc – văn hóa – nhân văn và cảnh quan rất quý. Hay ở làng Phước Tích, cách Huế khoảng năm chục cây số, lại tồn tại hàng chục căn nhà rường, mà kiến trúc, sự tinh tế nơi hoa văn trang trí, hoàn toàn không thua kém gì kiến trúc cung đình hoặc ở các dinh thự ở Phú Mộng, Kim Long.
Cùng với các không gian làng mạc ấy, là không gian của những lâm viên phía Tây Huế. Rõ ràng những thảm rừng xanh tạo nên cảnh quan lâm viên đã không chỉ dừng lại ở rặng núi Thiên An, Thiên Thai, Chầm… mà hiện nay đã vươn xa hơn ở các cánh rừng trồng phía Tây Hương Trà, Tây Phú Lộc… Huế, vùng đất tựa lưng vào núi, đứng bên sông mặt hướng ra biển, và những khoảng đệm là rừng núi cao, rừng đồi, rừng lâm viên, những cánh đồng sâu chuỗi các lũy tre và vườn tược, đầm phá với cụm rừng nước mặn… tất cả tạo nên một sự uyển chuyển mềm mại đến lạ lùng trong bức tranh phong thủy. Chính xác như ai đó nói: sự hài hòa đã lên ngôi ở nơi này.

Cầu Trường Tiền bên sông Hương

Cầu Trường Tiền bên sông Hương

Một vốn liếng di sản quan trọng khác góp phần để Huế là đô thị – di sản – sinh thái, đó là văn hóa phi vật thể, văn hóa thị dân (hơi hướng quý tộc xưa). Một tài nguyên không thuần chỉ thuộc về quá khứ, mà đang là một thực thể sống động, đang tồn tại trong cộng đồng và trong lòng đô thị có không gian tương ứng.
Có thể nói từ kiến trúc cung đình đến đến các khu dân cư truyền thống, các công trình tín ngưỡng tôn giáo đều là các công trình mở, sử dụng thông gió, ánh sáng tự nhiên, đó là các công trình kiến trúc sinh thái, kiến trúc xanh, thân thiện với  môi trường, được làm bằng vật liêu tự nhiên, đó chính là bản sắc của kiến trúc Huế. Tất cả đó là nền tảng cho việc phát triển đô thị Thừa Thiên Huế từ gốc rễ văn hóa di sản – cảnh quan sinh thái.

KẾ THỪA BẢN SẮC KIẾN TRÚC VÀ ĐÔ THỊ HUẾ TRONG PHÁT TRIỂN THỪA THIÊN HUẾ

Đến năm 2014, tỉnh Thừa Thiên Huế đã có 1 đô thị loại 1 là Huế, 2 đô thị loại IV là Hương Thủy và Hương Trà, cùng 8 đô thị loại V. Thị trấn Thuận An đang được đầu tư xây mới, nâng cấp để đạt chuẩn đô thị loại IV. Các trung tâm tiểu vùng Bình Điền, Điền Lộc, Thanh Hà, An Lỗ, La Sơn, Vinh Thanh đang được đầu tư đạt chuẩn đô thị loại V. Vẫn còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết, song điều có thể nhận thấy là diện mạo về một đô thị phát triển đã và đang hình thành ở vùng đất núi Ngự, sông Hương. Phát triển đô thị trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu hiện nay trên cơ sở khai thác bản sắc kiến trúc và đô thị Huế thành phố di sản vẫn phải là xu hướng chủ đạo.

Phát huy bản sắc đô thị Huế – thành phố di sản hiện nay, quy hoạch không gian đô thị hướng đến mô hình đô thị phân tán, đô thị sinh thái, đô thị xanh, đô thị phong cảnh. Để giảm “hiệu ứng quy mô”, Thừa Thiên – Huế sẽ không thể phát triển lan tỏa theo kiểu “cộng sinh” mà sẽ phát triển theo mô hình đô thị phân tán “ngoại sinh”, có nhiều đô thị vệ tinh, hình thành chùm đô thị sinh thái, để bảo tồn vẻ đẹp của đô thị Huế xưa. Cơ cấu quy hoạch đô thị của thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai sẽ bao gồm: thành phố Huế hiện nay sẽ là đô thị sinh thái trung tâm, hạt nhân của chùm đô thị với các đô thị động lực như Chân Mây – Lăng Cô, Tứ Hạ, Phú Bài và các đô thị vệ tinh Hương Thủy, Hương Trà, Thuận An… với bán kính từ 13 – 15km. Đây sẽ là các đô thị sinh thái nhỏ bao quanh thành phố sinh thái hạt nhân là Huế, mô hình này có ưu điểm là kết hợp được hai lối sống đô thị – nông thôn hình thành một chùm đô thị sinh thái. Kết nối giữa các đô thị là hệ thống giao thông, cảnh quan thiên nhiên và cây xanh. Đó là mô hình thành phố vườn, có môi trường thân thiện; xã hội hài hoà; văn hoá phong phú; nhân dân hạnh phúc. Các đô thị vệ tinh sẽ chia sẻ áp lực phát triển cho thành phố Huế góp phần gìn giữ không gian văn hóa, cảnh quan kiến trúc, hướng tới mục tiêu thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Tuy nhiên, kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy xây dựng đô thị vệ tinh cực kỳ tốn kém, do vậy trong giai đoạn trước mắt chỉ nên tập trung xây dựng trước vài đô thị vệ tinh, còn các khu đô thị khác tạm đưa vào khu vực bảo vệ môi trường thiên nhiên. Cùng với văn hóa xứ Huế với nếp sống kinh đô xưa, thành phố sẽ trở thành đô thị sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn để đạt đến các tiêu chuẩn như: Xâm phạm ít nhất đến môi trường thiên nhiên khu vực; Để môi trường sinh thái có thể tự cân bằng; Giảm thiểu tới mức thấp nhất sự tiêu tốn năng lượng và nước; Giảm thiểu tới mức  thấp nhất các yếu tố nhân tạo; Đảm bảo “nguyên tắc bù” khi xây dựng công trình đưa vào khai thác sử dụng. Có thể nói, phát triển đô thị sinh thái, đô thị xanh sẽ là lựa chọn mang tính chiến lược cho sự phát triển bền vững trong phát triển Thừa Thiên – Huế, thành phố trực thuộc Trung ương.

Nét kiến trúc và điêu khắc Lăng Khải Định, Tp Huế

Nét kiến trúc và điêu khắc Lăng Khải Định, Tp Huế

Với quỹ di sản kiến trúc rất lớn và có giá trị đặc biệt, ắp đầy những cái riêng, con đường để Huế trở nên hiện đại mà không đánh mất mình, chỉ có thể là phát triển trên cơ sở gìn giữ và phát huy các giá trị di sản văn hóa đó. Cần có kế hoạch bảo tồn di sản Huế bài bản và cụ thể song song với quá trình nâng cấp đô thị nhằm giảm thiểu nguy cơ chuyển từ đô thị – di sản sang đô thị có những di sản. Phát triển đô thị hiện đại trên cơ sở nhận diện kế thừa và phát huy chứ không phủ định cái đi trước, nhất là khi nó lại là khối giá trị vật chất – tinh thần to lớn. Di sản chúng ta để lại cho hậu thế chính là những khả năng duy trì sự tiếp nối.

- Quy hoạch xây dựng những khu đô thị mới, những khu công nghiệp hoặc dịch vụ mới, tập trung và thật sự hiện đại, đúng với trình độ của thế kỷ XXI. Song nên lưu ý thiết lập những vùng đệm, dải đệm chuyển tiếp giữa Huế cũ và Huế mới.
– Mạnh dạn hơn nữa là ý tưởng tạo lập một hệ, một chùm đô thị vệ tinh bao quanh Huế. Trong tương lai xa, hệ đô thị này sẽ có khả năng trở thành mô hình một vùng đô thị, có chung một nền tảng – đó là vùng văn hóa xứ Huế. Điều quan trọng là nên nói “KHÔNG” với xu hướng xây dựng xen cấy, tăng mật độ và phá vỡ không gian cảnh quan, điều đang xảy ra trên bờ Nam sông Hương.

Với bản sắc kiến trúc Huế truyền thống, kế thừa và phát huy bản sắc kiến trúc trước tiên cần xây dựng một quy chế bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc kiến trúc riêng cho vùng đô thị lõi của đô thị di sản Huế, trong bối cảnh phát triển đô thị Huế diện rộng. Phát triển có chiến lược và tầm nhìn dài hạn hệ thống các công trình mở, kiến trúc sinh thái, kiến trúc xanh, tuy nhiên ở thời kỳ này mới là kiến trúc xanh “đơn giản” (có thể hiểu là kiến trúc xanh “thụ động”), nghĩa là vận dụng cách ứng xử của cha ông trong việc thích ứng với điều kiện tự nhiên, khí hậu môi trường như chọn vị trí khu đất, sắp xếp hướng nhà, sử dụng vật liệu tự nhiên địa phương, hiệu quả là làm giảm tổng tiêu thụ năng lượng của công trình trong suốt đời của nó. Như vậy xu hướng kiến trúc trong phát triển đô thị Huế không thể là các công trình xây dựng bằng bê tông, thép và nhôm kính, đa phần bọc kín rồi lắp máy điều hòa, rất đơn điệu , vô hồn không có bản sắc địa phương, thường được gọi là “kiến trúc quốc tế” (có thể đặt ở nước nào cũng được), mà phải là  kiến trúc sinh thái, kiến trúc xanh (giữa kiến trúc sinh thái và kiến trúc xanh có khác nhau một chút về hiệu quả sử dụng nguyên liệu thiên nhiên, nhưng về bản chất có những điểm giống nhau  là một lới kiến trúc hòa nhập với thiên nhiên), thích nghi với điều kiện khí hậu địa phương, kế thừa bản sắc kiến trúc Huế truyền thống.

Tuy nhiên kiến trúc xanh ngày nay là những công trình kiến trúc ứng dụng công nghệ cao (có thể hiểu là kiến trúc xanh “chủ động”), trọng tâm được đặt vào việc tìm kiếm các nguồn năng lượng tái tạo được. Các nguồn công nghệ này có thể sẽ tiêu thụ một lượng lớn năng lượng và nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất. Do vậy trong phát triển kiến trúc đô thị Huế cần quan tâm nhiều đến kiến trúc xanh hơn là kiến trúc hậu hiện đại, kiến trúc “Hightech”… nhằm bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, tạo dựng cuộc sống an lành bình yên, bền vững cho con người và hài hòa với môi trường kiến trúc Huế xưa.

Phát triển dựa trên một đô thị cổ cảnh quan đã có sẵn tính hoàn chỉnh nên yêu cầu trong phát triển của đô thị Huế khắt khe hơn so với nhiều đô thị khác. Yếu tố hài hòa, cân bằng là mục tiêu các nhà thiết kế cũng như quản lý đang hướng đến. Trong giai đoạn phát triển xây dựng mạnh mẽ như hiện nay, công việc này xem ra không dễ. Nhưng rõ ràng nhận diện được một cách đầy đủ các giá trị bản sắc vật thể và phi vật thể trong tổng thể kiến trúc đô thị Huế sẽ là một bước quan trọng để xây dựng một đô thị Huế  sinh thái –  xanh – giàu bản sắc, một lựa chọn mang tính chiến lược cho sự phát triển bền vững trong phát triển Thừa Thiên – Huế, thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.

Với hệ thống các di sản dày đặc, có thể nhận diện bản sắc đặc trưng riêng của phát triển đô thị. Các yếu tố cơ bản trên bao gồm sự chuyển hóa uyển chuyển hình thái học đô thị giữa các cấu trúc  đô thị qua từng thời kỳ. Bản sắc đô thị Huế cũng bao gồm cả sự hài hòa giữa kiến trúc đô thị và khung cảnh thiên nhiên, trong đó có vai trò chủ đạo của sông Hương cùng các con sông khác, ao hồ, đầm phá, cửa biển, Cồn Hến và Dã Viên, đồi Thiên An thuộc vùng đất Tây Nam, núi Ngự Bình. Bản sắc kiến trúc Huế thể hiện rõ những nét riêng rất khó gặp tuy có những nét tương đồng với kiến trúc Á Đông.


Nguyễn Đăng Sơn
– Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đô thị & Phát triển hạ tầng

Tag: bản sắc Huế, cố đô Huế, kiến trúc Huế, kinh thành Huế,

Bình luận