08/09/2014

Đô thị Huế “chọn” hướng đi đúng đường và bền vững

“Những tích lũy từ dĩ vãng không chỉ là hương hoa, không chỉ là đối tượng để ngưỡng mộ và chiêm ngưỡng mà còn là nguồn lực, là điểm tựa, là một dạng tài nguyên, chuyên biệt và đặc trưng, cho những bài tính vĩ mô của chiến lược phát triển. Sự phát triển tự nhiên và phù hợp hơn cả cho một đô thị như Huế” – GS. Hoàng Đạo Kính.

 

PV: Là một người quan tâm nhiều về Huế, căn cứ vào đâu ông lại gọi Huế là đô thị di sản?

GS Hoàng Đạo Kính: Huế sở hữu những di sản đô thị. Hơn thế nữa: Huế là đô thị – di sản.

Đô thị – di sản là một chỉnh thể lịch sử đặc trưng, một sản phẩm của nền văn minh đô thị, kết hợp hữu cơ các thành tố vật chất và tinh thần, kiến trúc và văn hóa, trong sự hòa quện với thiên nhiên, là xuất phát điểm chi phối tất thảy.

hue2

Di sản kiến trúc Ngọ Môn, Hoàng thành Huế

Đô thị – di sản kết tụ những di sản trong sự chuyển hóa hữu hình và vô hình, không gian và thời gian, cộng sinh và cân bằng, kiện toàn về phương diện hình thái học, mà đặc điểm cũng như giá trị nổi trội là sự bất đối kháng giữa thành tố này với thành tố khác, dù chúng có ra đời muộn hơn, dù chúng có khác biệt về tính chất sử dụng.

Huế, duy nhất ở nước ta, cho đến hôm nay là đô thị như vậy, cho dù nguy cơ đô thị – di sản chuyển nhanh sang đô thị có những di sản, đã nhãn tiền.

Đô thị – di sản Huế hợp nhất những thành phần – di sản, đó là: Kiến trúc triều Nguyễn; Kiến trúc phố thị; Các làng truyền thống; Kiến trúc thuộc địa; Cảnh quan thiên nhiên nhân văn hóa và đô thị hóa.

Bài học rút ra từ di sản kiến trúc chính thống Huế: tôn trọng tương quan giữa kiến trúc và không gian tự do, sự tuần hoàn của những khoảng thửa đất không bị chiếm cứ, xen cài và lồng ghép trong những trật tự kiến trúc, tạo nên những nhịp điệu, đặc và loãng, theo phương vị ngang.

Chọn một điểm cao, bao quát đô thị Huế hôm nay, ta vẫn còn nhận rõ sự vật chất hóa cái thế giới quan, cái thẩm mỹ chuyên biệt ấy của vua, chúa, quan lại và thần dân qua các thế hệ, theo dòng chảy không ngưng trệ. Cớ chi chúng ta không chủ trương tiếp nối cái dòng chảy lịch sử ấy?

Mảng kiến trúc phố thị, với các dãy phố ở phía Đông kinh thành, khu Gia Hội, Bao Vinh và 4 phường trong kinh thành, có những đặc điểm và giá trị về lịch sử – văn hóa – kiến trúc, chưa được nhìn nhận và đánh giá đầy đủ. Cùng với khu 36 phố phường Hà Nội chung độ tuổi với những cấu trúc đô thị nêu trên, chúng ta có cơ sở làm sáng tỏ nhiều điều về cách ăn, cách ở của người Việt nơi chốn thị thành, khá khác biệt so với chốn thôn quê, mà ta am tường hơn.

4 ô phố trong kinh thành, hình thành từ cuối thế kỷ XIX, là một ví dụ khá sớm về kiểu quy hoạch theo ô bàn cờ, so với kiểu quy hoạch tự phát theo dãy phố, là một kiểu mẫu về sự sắp đặt theo tôn ti trật tự, sự phân chia không gian dẫn đến sự hình thành kiểu nhà vườn Huế, một sản phẩm kiến trúc – xã hội mạng đậm tính nhân văn. Đồng thời, 4 ô phố này là mẫu mực về quản lý xây dựng: khống chế những gì tác động đến sự nhất thể, song lại mở cửa cho những biến hóa đương nhiên trong chi tiết. Cho đến nay, những đường Lê Thánh Tôn, Hàn Thuyên, Đặng Trần Côn, Ngô Sỹ Liên, Đinh Công Tráng còn lưu giữ được phần nào hình ảnh phố vườn Huế.

Các làng ven kinh thành như Kim Long, Vĩ Dạ, An Cựu, Dương Xuân Thượng, Dương Xuân Hạ, Nguyệt Biều,… là những thành phần hữu cơ của cơ thể kinh đô Huế, góp phần tạo nên tính duy nhất cho đô thị này, nơi có sự chuyển hóa tự nhiên từ kiến trúc kinh thành sang kiến trúc phố thị, sang kiến trúc các làng ven mà dân cư đa phần là các tầng lớp quan lại và dân thị thành. Các làng ven lại chuyển hóa tự nhiên sang các làng xã ngoại vi. Chỉ khảo sát sơ bộ, những làng Lại Ân, Thanh Tiên, Nam Phổ, Chiết Bi, Dưỡng Mong, Công Lương, Dạ Lê Chánh… ở huyện Phú Vang và huyện Hương Thủy, đã nhận ra cả một quỹ kiến trúc – văn hóa – nhân văn và cảnh quan quý hiếm đến nhường nào. Ít nơi nào trên đất nước ta còn thấy được sự toàn vẹn về kiến trúc, sự sống động trong sinh hoạt cộng đồng thôn xã đến thế.

Cái chung của những cấu trúc phố thị, của làng trong đô và làng quanh đô, là ở chỗ chúng đều có cấu trúc quy hoạch không gian theo đơn vị khuôn viên – nhà vườn, đều sở hữu một bộ đầy đủ những thiết chế tôn giáo và tín ngưỡng, đều chung một kiểu kiến trúc hoặc nhà vuông hoặc nhà rường, về cơ bản trang trí bày biện giống nhau. Sự khác biệt là ở chỗ sang hoặc nghèo. Song trong trình độ thẩm mỹ không nhận thấy sự khác biệt trời vực.

Lạ thay, ở làng Phước Tích, cách Huế ngót nghét năm chục cây số, lại tồn tại hàng chục căn nhà rường, mà kiểu cách kiến trúc, mà độ chín muồi và tinh tế của hoa văn trang trí, không kém gì mấy những gì thấy được ở kiến trúc cung đình hoặc ở các dinh thự phú quý làng Kim Long.

Chắc chắn đã tồn tại một văn hóa xứ Huế, khu biệt và đặc trưng, với tư cách là một hiện tượng (Phenomenon) trong nền văn hóa dân tộc. Đã tồn tại một vùng văn hóa xứ Huế, hình thành và đạt đỉnh điểm phát triển trong những sự hạn hẹp về không gian và thời gian.

Một ý tưởng phù hợp nhất cho quy hoạch phát triển thành phố Huế không thể không đếm xỉa đến cái vùng, cái không gian văn hóa ấy, bên cạnh quỹ kiến trúc di sản, hiển thị trước mắt ta.

Quỹ kiến trúc thời thực dân ở Huế, bởi những lý do lịch sử, mà nhỏ bé hơn nhiều so với Sài Gòn và Hà Nội. Tuy nhiên, nhận rõ hai đặc điểm:

– Các con phố thời Pháp, mà đường chính là Lê Lợi, tọa lạc trên bờ Nam sông Hương, chiếm lĩnh một cách dè dặt triền sông, với những tòa nhà có quy mô vừa phải, kiến trúc khiêm nhường, sắp đặt không dày đặc, đã chẳng những không tạo nên bất cứ một sự tương phản nào với kinh thành và tính chất kiến trúc – cảnh quan trên bờ Bắc, mà còn trở thành một sự chuyển hóa tự nhiên cả về phương diện lịch sử, cả về phương diện hình thái học đô thị. Mảng phố thời Pháp là cái điểm tựa về quy hoạch và thẩm mỹ để Huế lan tỏa về phía Nam ở những thời kỳ tiếp theo.

– Quan sát những tòa nhà thời Pháp ở Huế, xuất hiện ý nghĩ: Người Pháp, sớm xây dựng ở Sài Gòn, đã du nhập vào đây kiểu kiến trúc từ mẫu quốc mà chưa có thì giờ cho sự biến hóa. Xây dựng ở Hà Nội muộn hơn, với những chủ trương có tầm nhìn xa hơn, nhất là trong điều kiện có khá đủ thời gian để thích ứng và tiêu hóa, người Pháp đã thành công trong sự bản địa hóa kiến trúc. Ở Huế lại khác, sự hiện hữu của triều đình nhà Nguyễn, đặc biệt sự hiện hữu của nền nghệ thuật và nền văn hóa xứ Huế dồi dào sức sống, đã phần nào chi phối kiến trúc của người Pháp, tạo cho nó những nét riêng, trong sự cộng sinh, dẫn đến những biểu hiện và những hiệu quả thẩm mỹ bất ngờ. Ngoại trừ những tòa nhà theo kiểu thức Pháp (như UBND Thành phố chẳng hạn), kiến trúc của các công trình khác ở bờ Nam, điển hình là các biệt thự ở đường Lý Thường Kiệt, hoặc xây xen kẽ ở bờ Bắc là sự kết hợp nhuần nhị các yếu tố bản địa và Pháp.

Nghệ nhân xứ Huế, nổi trội hơn cả là những tay thợ nề ngõa, tài tình đến mức chẳng những lặp lại thành thạo, mà còn biến thành của mình những thủ pháp, những đề tài trang trí có nguồn gốc Âu châu, mà đỉnh cao là lăng vua Khải Định và cung An Định.

Có thể mạnh dạn nhận xét: Ở kiến trúc và mỹ thuật Huế nửa đầu thế kỷ XX, Đông và Tây đã gặp nhau, trong sự bình đẳng nào đó. Chính cuộc giao duyên này đã góp phần đem lại sắc thái riêng cho nghệ thuật xứ Huế, một thời ai đó ngộ nhận là sự suy đồi!

Thành phần – di sản cuối cùng của đô thị – di sản Huế mà chúng tôi muốn đề cập là cảnh quan thiên nhiên, nhân văn hóa và đô thị hóa. Bởi lẽ nào mà chúng tôi lại sử dụng cái cụm từ nghe có phần lạ tai ấy? Đô thị, tiếp theo cái làng của hệ thang bậc tiến hóa văn minh cư trú, xưa nay được đặt vào một khung cảnh thiên nhiên cụ thể nào đó, lồng ghép vào nó, biến đổi nó theo nhu cầu, làm giàu hoặc làm nghèo nó, làm xấu đi hoặc làm đẹp lên, để lại nơi Thiên nhiên những dấu ấn của Con người. Đó là một quá trình nhân văn hóa, đi cùng với quá trình đô thị hóa. Thử trình bày sơ đồ tiến hóa này: Thiên nhiên – tài nguyên -> kiến tạo đô thị -> môi trường đô thị -> cảnh quan đô thị -> tính cách đô thị.

hue4

Kiến trúc trang trí theo phong cách Âu Châu Cung An Định, Tp Huế

Huế, thật hiếm hoi, tựa vào núi, đứng trên sông và hướng ra biển. Những khoảng đệm và gắn nối 3 thành tố giang sơn trời đất ấy chính là rừng, đồi, cánh đồng, đầm vạc. Tất thảy trong một sự chuyển tiếp uyển chuyển, không có gì là đột ngột, làm ta ngỡ ngàng. Hài hòa, đại hài hòa ngự trị nơi chốn này.

Đô thị hóa cảnh quan thiên nhiên ở nơi đây không đơn thuần là tỉ lệ đất dành chừa cho cây xanh, không đơn thuần là việc xây dựng những vườn hoa và công viên, hoặc kè bờ sông và ao hồ… Các khoảng không gian chiếm cứ bởi cỏ cây, sông nước và rừng đồi tham gia vào cơ chế đô thị như một thành phần thứ hai, ngang bằng với kiến trúc. Chúng tồn tại tự nhiên, như chưa hề được quy hoạch. Đô thị hóa Thiên nhiên nơi đây là sự tránh né nhân tạo hóa thô thiển, sự đề cao tính nhân văn hóa.

 

PV: Với một di sản đầy ắp những cái riêng này, theo ông con đường nào để Huế trở nên hiện đại mà không “đánh mất mình”?

GS.Hoàng Đạo Kính: Câu trả lời duy nhất phù hợp, duy nhất khả thi, đó là: PHÁT TRIỂN TRONG SỰ TIẾP NỐI. Chúng ta hãy thử đặt lên bàn cân bản chất, quan niệm, đòi hỏi và tính thực tế của cặp phạm trù BẢO TỒN và PHÁT TRIỂN.

Đặt mục tiêu bảo tồn (tức là giữ nguyên như đối với di tích) những di sản đô thị là một việc phi lý và hoàn toàn bất khả thi.

Đối với các đô thị – di sản như Huế, cách đặt vấn đề lại phải khác. Bảo tồn phải đi liền với Phát triển. Phát triển phải kết hợp với Bảo tồn. Về bản chất, Bảo tồn là giữ lại, Phát triển là thay đổi. Hai phạm trù đối kháng. Trong thực tiễn thì rất ít thấy sự chung sống hòa bình giữa chúng. Song, điều ấy có thể, khi chúng ta ứng xử có lễ độ, có văn hóa.

Ở Huế, chúng ta đang bảo tồn di sản kiến trúc cung đình theo bài bản khoa học, bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa phi vật thể bằng những festival sân khấu hóa. Đồng thời ở Huế, chúng ta đang chăm lo phát triển, hiện đại hóa đô thị và quỹ kiến trúc đô thị.

Song, những nỗ lực bảo tồn vốn kiến trúc cung đình về phương diện nào đó khép kín lại thành ốc đảo. Các di sản đô thị, đô thị – di sản nằm ngoài sự bảo tồn. Trong khi đó công cuộc xây dựng mới lại thách thức cả hai. Phát triển tăng sức sống cho Huế, cuốn hút nó vào guồng hiện đại hóa mà lâu nay nó ngấp nghé. Song Phát triển đã đụng chạm, cục bộ và toàn phần, đến đô thị – di sản; biểu hiện ở sự dỡ bỏ những kiến trúc cũ quý hiếm xẩy ra gần đây, sự bố trí chưa hợp lý công trình này nọ, sự bành trướng quá độ về quy mô và về chiều cao, sự xa lạ về kiểu cách kiến trúc mới… Nơi này chỗ nọ, lúc này lúc khác, sự phát triển đã bắt đầu phá vỡ cơ thể đô thị. Nguy cơ chuyển từ đô thị – di sản sang đô thị có những di sản, hiện rõ.

Để giải quyết ổn thỏa những mâu thuẫn thái cực đó, chúng ta cần thêm vào khái niệm Phát triển cụm từ, phù hợp với thực tiễn và logic trong hướng ứng xử, đó là PHÁT TRIỂN TRONG SỰ TIẾP NỐI.

Sự tiếp nối chính là cái cầu giữa BẢO TỒN và PHÁT TRIỂN. Tiếp nối chính là sự đảm bảo dòng lịch sử phát triển đô thị chảy tự nhiên. Thời nay kế tiếp thời trước, tự nhiên như thời gian. Thời đại ta có thể phát triển mạnh hơn, nhanh hơn, để lại nhiều dấu ấn hơn, song thời ta tuyệt nhiên không có quyền phủ định cái đi trước, nhất là khi nó lại là khối giá trị vật chất – tinh thần to lớn. Hơn nữa, phải hiểu rằng chúng ta cũng chỉ là một khâu trong cái chuỗi những kiếp người. Di sản chúng ta để lại cho hậu thế chính là những khả năng duy trì sự tiếp nối.

Quan điểm phát triển tiếp nối xuất phát từ những nhận thức sau:

– Di sản đô thị là một tài nguyên thứ hai, sau tài nguyên thiên nhiên.

– Di sản đô thị không cản trở, mà là động lực đặc trưng cho phát triển.

– Di sản đô thị không phải là di tích.

– Di sản đô thị là đối tượng để gìn giữ, mà điều kiện tiên quyết chính là khả năng thích ứng của nó với nhu cầu cuộc sống đương đại, ở vai trò mà nó chiếm giữ trong cuộc sống hôm nay, ở những con kênh và những cái cầu mà nhờ đó nó hòa đồng vào cơ thể đô thị hiện đại.

Phát triển đô thị – di sản Huế trong sự tiếp nối bao hàm những nội dung sau: Bảo tồn, Cải tạo, Phát triển. Cải tạo nối Bảo tồn với Phát triển.

hue3

Kiến trúc làng ven kinh thành thôn Vĩ Dạ, Tp Huế

Bảo tồn đối với Huế không chỉ là việc duy trì lâu dài những di tích đơn lẻ, những quần thể kiến trúc – cảnh quan đã được công nhận, không chỉ là việc trùng tu và tôn tạo chúng theo khoa học. Ngoài đối tượng này còn 3 đối tượng khác cần được bảo tồn, tuy nhiên theo những cấp độ và cách ứng xử khác nhau. Đó là:

– Bảo tồn riêng từng thành tố của đô thị di sản. Khác với loại đối tượng di tích nêu trên, bảo tồn đối với diện này bao gồm việc giữ gìn những thành phần được coi là di tích ở nguyên trạng; cải tạo và thích ứng các kiến trúc đã xuống cấp hoặc không còn phù hợp với các yêu cầu mới về sử dụng; xây dựng xen kẽ những công trình và ngôi nhà mới trên nguyên tắc duy trì đặc điểm tổ chức không gian cũ và không phá vỡ khung cảnh kiến trúc đã có; chỉnh trang và định hình diện mạo kiến trúc đặc trưng cho toàn bộ cấu trúc đô thị. Các khu Gia Hội, Bao Vinh, 4 phường trong kinh thành, các làng Kim Long, Vĩ Dạ, Thủy Biều v.v… thuộc diện này. Công cụ giúp ích cho việc quản lý cải tạo ở đây chính là những Quy chế và những Hướng dẫn.

– Bảo tồn những thành tố “mềm” của đô thị – di sản, đó là những không gian triền sông và bản thân sông Hương, các vùng đất Tây – Nam, đồi Vọng Cảnh, đồi Thiên An, vùng đất Thủy Xuân v.v… Bảo tồn ở đây thể hiện bằng việc hạn chế chiếm dụng đất để xây dựng, tuyệt đối không cho phép xây những công trình phá vỡ cảnh quan, nâng niu tính tự nhiên của khung cảnh.

Bảo tồn đô thị – di sản ở tầm vĩ mô, chỉ có thể thực hiện bằng nhiều biện pháp quy hoạch, bằng các chế độ đặc thù cho việc cải tạo và hiện đại hóa đô thị, bằng sự quản lý gắt gao bởi cơ quan giám sát phát triển thành phố… Bảo tồn ở phạm vi chung của đô thị – di sản Huế là việc duy trì các mối liên quan khăng khít về lịch sử và về hình thái học kiến trúc giữa các thành tố của nó; duy trì sự thống nhất trong một thể của nó; duy trì tính chất đô thị – phong cảnh, tính chất vừa là kinh kỳ vừa là một chốn cư ngụ thôn dã.

Như vậy, định hướng phát triển Quỹ đô thị hiện có của Huế chính là CẢI TẠO, theo cách hiểu đầy đủ, trong đó có yếu tố bảo tồn.

Huế có thể trở thành đô thị sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn, đô thị sang về Dĩ vãng và giàu về Hiện tại, nếu ta nhận thức rõ và ra sức bênh vực cái cơ ngơi mà nó sở hữu.

 

PV: Vậy, làm sao để Huế phát triển trong sự bảo tồn tiếp nối mà ông nói?

GS Hoàng Đạo Kính: Suy ngẫm từ góc độ văn hóa – lịch sử, tôi mạnh dạn nêu ra đây một vài ý tưởng, đóng góp cho chiến lược phát triển thành phố Huế:

Chiến lược phát triển tiếp nối. Bảo tồn và duy trì di sản để nó sống tự nhiên trong cơ thể đô thị biến đổi. Cải tạo và tiếp sức cho những thành phần đô thị là những ứ tồn do lịch sử để lại. Các công trình, các thành phần xây dựng mới phải so đo, ngó nhìn vào thành phố cũ, không tạo nên những tương phản và những thách thức. Xây dựng hôm nay và xây dựng mai sau, nhất thiết phải duy trì Huế trong sự nhất thể hóa với tư cách một giá trị nổi trội. Phát triển đô thị tiếp nối là sự cộng sinh của dĩ vãng – hiện tại – tương lai, trong một đô thị phát triển có điều tiết vĩ mô và vi mô.

Chiến lược phát triển cân bằng. Đó là sự cân bằng trước tiên giữa các động lực phát triển: sản xuất – dịch vụ – văn hóa. Cân bằng giữa con người, cộng đồng dân cư với đô thị. Cân bằng giữa đô thị và thiên nhiên, giữa nông thôn và thiên nhiên. Cân bằng về hình thái học kiến trúc đô thị. Cân bằng giữa đô thị hóa và sự duy trì nền cảnh thiên nhiên…

Chiến lược phát triển đô thị theo mô hình “thâm canh” hay “quảng canh”. Tức là sự lựa chọn giữa phát triển theo bề sâu và phát triển theo bề rộng. Người viết bài này không hề giấu diếm sự lựa chọn ưu tiên mô hình “thâm canh”. Phát triển theo mô hình này, ta cần dự liệu việc bảo tồn và duy trì bền vững các quỹ vật chất và phi vật chất của đô thị lịch sử, đô thị – di sản; chú trọng đầu tư cải tạo, nâng cấp, kiện toàn đô thị hiện hữu. Mở rộng đô thị theo khả năng đầu tư, không chiếm đoạt vội vã và băm nát lãnh thổ, mở rộng đến đâu định hình đô thị đến đó, không để đô thị luôn trong tình trạng cơi nới dở dang. Trong tình hình kinh tế hiện nay, có lẽ bài tính chiến lược này khả thi hơn cả.

Một khi do tầm nhìn và những tính toán nào đó mà có sự lựa chọn mô hình phát triển “quảng canh”, phát triển theo bề rộng, tôi vẫn cho rằng quy hoạch tổng thể vẫn nên chia thành 2 phần. Phần 1, chú trọng đặc biệt việc nâng cấp, bổ sung, hiện đại hóa và kiện toàn hóa hạt nhân đô thị hiện hữu, không để nó phai mờ đi với tư cách là một thành phố mà cái tên thôi đã là ‘thương hiệu”. Thiết lập hệ thống đô thị nhỏ ở chừng mực hợp lý. Hạn chế sự phung phí tài nguyên đất, hạn chế xé nhỏ tài nguyên lãnh thổ. Trong sự bành trướng đô thị, nên để chừa ra những vùng đất – tiềm năng, giữ nguyên diện tích nông nghiệp, dành phần cho con cháu.

Đô thị hóa lãnh thổ về phương diện hành chính không khó. Đô thị hóa lãnh thổ bằng hạ tầng kỹ thuật và kiến trúc, khó hơn. Đô thị hóa lãnh thổ bằng thành thị hóa dân cư, khó gấp bội. Hễ dân cư đô thị mà chưa thành thị hóa, đô thị sẽ chỉ là nơi trú ngụ tập trung. Nó sẽ không có lực hút và lực tỏa.

Phương châm phát triển Huế: Thành phố văn hóa – lịch sử, thành phố sinh thái trong Thiên nhiên, thành phố không có mâu thuẫn đối kháng, thành phố phát triển mà không tạo nên những hậu họa.

Huế, – nơi sống ấm no, sống an lạc, sống hài hòa và không bon chen, nơi ta thở sâu, đi nhẹ, nói êm. Có thế, Huế mới đích thực là chốn đô thị ước mơ cho người đời.

Việc chọn đường đi có đúng không, việc xây dựng có bền vững không, công cuộc hiện đại hóa đô thị có làm nó đánh mất mình hay không, phụ thuộc ở sự nhận ra, sự thấu hiểu và sự chuyển tải vốn liếng văn hóa – lịch sử vào chiến lược phát triển thành phố Huế.

 

Bình luận