03/07/2017

Định hướng chiến lược quốc gia phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam

(Tạp chí Kiến trúc Việt Nam) – Phát triển Đô thị Thông minh là một vấn đề ngày càng được quan tâm tại nhiều đô thị trên thế giới. Tại Việt Nam, sự quan tâm và xúc tiến các nghiên cứu chương trình và lộ trình phát triển đô thị thông minh của chính quyền các đô thị tạo ra nhiều thuận lợi cho việc đổi mới hạ tầng và cơ cấu quản lý theo tư duy đô thị thông minh. Bên cạnh những cơ hội lớn mở ra từ việc phát triển đô thị thông minh, có thể giúp đất nước phát triển nhanh hơn, hội nhập quốc tế dễ dàng hơn, theo hướng phù hợp với kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa, cũng có nhiều nguy cơ tiềm ẩn từ việc các địa phương lập kế hoạch phát triển đô thị thông minh một cách tự phát, thiếu phối hợp với nhau một cách hiệu quả. Vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay, cần lập một chiến lược quốc gia về xây dựng và phát triển đô thị thông minh giúp các đô thị thông minh tương lai của đất nước có thể phát triển khả quan, hài hòa, hợp tác tốt với nhau ngay từ giai đoạn đầu phát triển, hướng đến những mục tiêu giá trị thống nhất và đến việc cùng nhau đem lại hiệu quả cộng hưởng về mọi mặt trong suốt quá trình phát triển đô thị và phát triển quốc gia.

Mô hình nhà ở thông minh, khu đô thị thông minh Fujisawa Smart Town do hãng Panasonic hợp tác phát triển tại Tokyo (Nhật Bản)

Mô hình nhà ở thông minh, khu đô thị thông minh Fujisawa Smart Town do hãng Panasonic hợp tác phát triển tại Tokyo (Nhật Bản)

Hiện trạng phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam
Dựa trên các giá trị tổng thể của đô thị thông minh theo kinh nghiệm thế giới và các định hướng phát triển đô thị phù hợp với Việt Nam, chúng ta có thể định nghĩa: “Đô thị Thông minh là đô thị sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (viết tắt là ICT – Information Communication Technology) và mạng lưới thiết bị kết nối qua Internet (viết tắt là IoT – Internet of Things) để làm nền tảng xây dựng đô thị đáng sống với quy hoạch bền vững, quản lý đô thị hiệu quả, minh bạch và với tính cạnh tranh đô thị cao về mọi mặt”.
Đánh giá chung, phát triển “đô thị thông minh” ở nước ta đang ở trong các giai đoạn ban đầu. Một số đô thị ở Việt Nam cũng đã quan tâm bắt tay vào việc xây dựng và phê duyệt các đề án, quy hoạch phát triển đô thị thông minh, điển hình như TPHCM, Đà Nẵng, Bình Dương, Hải Phòng… Trong quá trình đó, các công ty viễn thông, công nghệ thông tin đóng vai trò khá tích cực và quan trọng trong việc giới thiệu các giải pháp xây dựng đô thị thông minh cho chính quyền. Thời gian qua ước tính có gần 20 tỉnh, thành phố đã tổ chức hội thảo và ký thoả thuận hợp tác (MOU) với các doanh nghiệp viễn thông – CNTT trong và ngoài nước để xây dựng các dự án thí điểm về phát triển đô thị thông minh. Tuy nhiên, lựa chọn một chiến lược phát triển “đúng và trúng” để phát triển đô thị thông minh trên khắp cả nước có hiệu quả còn là việc cần làm rõ trong các giai đoạn sắp tới.

Phối cảnh Quy hoạch khu công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội)

Phối cảnh Quy hoạch khu công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội)

TP HCM là một trong những thành phố lớn nhất cả nước đã có Quyết định số 4693 ngày 8/9/2016 về thành lập Ban Điều hành thực hiện Đề án “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh” gồm 22 thành viên. Ngay sau khi có Quyết định 4693, Ban điều hành đề án đã họp bàn để triển khai nhiệm vụ quan trọng, thực tế của TP đang đòi hỏi phải ứng dụng các giải pháp của thành phố thông minh. Để xây dựng thành phố thông minh, UBND TPHCM và Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) đã ký thỏa thuận hợp tác Tư vấn khung về công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong xây dựng và triển khai Đề án “Xây dựng TPHCM trở thành thành phố thông minh giai đoạn 2017 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030”. TP cũng đang tìm kiếm các đối tác tư vấn công nghệ lớn trên thế giới như Microsoft (Hoa Kỳ) để có các kế hoạch đầu tư phát triển thực tế trong tương lai.
Tại Đà Nẵng, ngày 25/3/2014 Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng đã ký Quyết định 1797 phê duyệt Đề án “Xây dựng thành phố thông minh hơn tại Đà Nẵng giai đoạn 2014 – 2020” trên cơ sở điều chỉnh, bổ sung nội dung Đề án xây dựng thành phố thông minh hơn tại Đà Nẵng đã được phê duyệt tại Quyết định 1797 trước đó. Chiến lược phát triển đô thị thông minh tại Đà Nẵng sẽ theo hướng xây dựng một chính quyền thông minh kết nối được với những công dân thông minh, doanh nghiệp thông minh. Mới đây nhất, UBND TP Đà Nẵng và Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel đã ký kết Biên bản ghi nhớ về xây dựng thành phố thông minh tại Đà Nẵng. Đơn vị tư vấn nước ngoài được chọn là Tập đoàn IBM.
Bình Dương cũng đang có những bước đi đầu tiên để chuẩn bị cho lộ trình xây dựng thành phố thông minh. Tháng 9/2016, với sự phối hợp của Tập đoàn Braintport (Hà Lan) và Tổng Công ty Becamex IDC đã xây dựng Đề án “Xây dựng Thành phố thông minh Bình Dương” dựa trên mô hình của thành phố Eindhoven và báo cáo với UBND tỉnh Bình Dương để tiến tới hoàn thiện và có các bước triển khai phát triển đô thị thông minh tiếp theo trên địa bàn tỉnh.
Tại Thừa Thiên – Huế, cho đến thời điểm này UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế đang phối hợp với Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc (Koica) xây dựng dự án quy hoạch chung thành phố Huế thông minh (Huế U-City).
Với vị thế đặc biệt và cơ sở hạ tầng được đầu tư đồng bộ, Phú Quốc là địa điểm rất thích hợp để trở thành thành phố thông minh. Ngày 29/9/2016, UBND Tỉnh Kiên Giang và VNPT đã tổ chức Hội nghị xây dựng và triển khai đề án thành phố thông minh Phú Quốc. Trong lộ trình xây dựng Phú Quốc trở thành thành phố thông minh, có 4 giai đoạn. Cụ thể: Bước đầu triển khai hạ tầng mạng, công nghệ thông tin và triển khai các dịch vụ cơ bản. Sau đó, Phú Quốc sẽ tập trung xây dựng Trung tâm vận hành tập trung, triển khai thêm các dịch vụ thông minh và cuối cùng là xây dựng thành phố ngày càng thông minh theo xu hướng trên thế giới và Việt Nam. Trong năm 2016, VNPT đã triển khai các dịch vụ cơ bản nhất, phục vụ nhu cầu thiết yếu của Phú Quốc như xây dựng Chính quyền điện tử, hệ thống Smart Wifi và xây dựng hệ thống giám sát môi trường.
Tại Hải Phòng, bên cạnh các nỗ lực của chính quyền về phát triển cơ sở hạ tầng thông tin viễn thông phục vụ phát triển đô thị thông minh, ngày 05/8/2016, Hải Phòng đã công bố đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 xây dựng Cát Hải thành “Đảo thông minh”.
Tại Thanh Hóa, bên cạnh các hoạt động hội thảo chuyên ngành, ngày 21/9/2016, Dự thảo Kế hoạch xây dựng mô hình thành phố thông minh hướng đến xây dựng thành phố Thanh Hóa, thị xã Sầm Sơn, thị xã Bỉm Sơn và các đô thị động lực trở thành thành phố thông minh đã được lập và báo cáo UBND tỉnh, trong đó thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý đô thị, từng bước nâng cao chất lượng sống cho người dân, phát triển các TP thuộc tỉnh Thanh Hóa theo định hướng TP thân thiện với môi trường, TP đáng sống, phát triển bền vững; góp phần làm tăng sức hấp dẫn của tỉnh để thu hút các nguồn lực đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Ở tầm quốc gia, tháng 12/2016, trên cơ sở xem xét nội dung kiến nghị của Bộ Thông tin & Truyền thông tại báo cáo kèm theo văn bản 3963/BTTTT-KHCN ngày 11/11/2016 về xây dựng đô thị thông minh bền vững trên thế giới và Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tăng cường ứng dụng CNTT, xây dựng Chính phủ điện tử theo Nghị quyết 36a ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử và Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 – 2020 đã được ban hành kèm theo Quyết định 1819 ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng chỉ đạo Bộ TT&TT khẩn trương chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan xây dựng, ban hành tiêu chí đánh giá, công nhận đô thị thông minh và hướng dẫn các địa phương thực hiện, bảo đảm việc đầu tư thiết thực, hiệu quả, phù hợp với khả năng cân đối vốn và điều kiện của từng địa phương, tránh đầu tư theo phong trào, lãng phí, thất thoát.

Tuyến phố đi bộ tại TP thông minh Songdo City (Hàn Quốc)

Tuyến phố đi bộ tại TP thông minh Songdo City (Hàn Quốc)

Định hướng Chiến lược quốc gia về phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam

Đánh giá chung, việc phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam còn rất nhiều thách thức. Trước hết là áp dụng hệ thống công nghệ cao để đưa vào phát triển đô thị bởi điều kiện phát triển cho các đô thị và công trình của Việt Nam chưa đồng bộ và hạ tầng cũng chưa được phát triển toàn diện. Cho nên khi lồng ghép hệ thống công nghệ cao sẽ gặp những khó khăn nhất định. Vấn đề thứ hai là sự tiếp nhận của người dân, đặc biệt là người quản lý đô thị. Để sở hữu những căn hộ thông minh trong khu đô thị thông minh thì người dân bắt buộc phải chi trả một chi phí nhất định trong quá trình sử dụng và chắc chắn là không rẻ. Do vậy, điều quan trọng là cần phải nâng cao nhận thức cho người dân để nhận thấy sự khác biệt giữa khu đô thị cũ và đô thị thông minh. Cuối cùng, trong thời gian tới, Việt Nam nên có những chính sách thu hút các nhà đầu tư để phát triển thí điểm các công trình thông minh nhằm giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho từng hộ gia đình.
Ưu tiên tập trung cho các lĩnh vực đem lại giá trị “Hiệu quả Kinh tế”: Do công nghệ thông tin ngày nay phát triển rất nhanh và kinh phí cho những giải pháp công nghệ tiên phong ứng dụng trong quản lý đô thị thường rất tốn kém, trên thế giới hiện vẫn chưa có những đô thị thông minh toàn diện mà chỉ có những đô thị thông minh theo hướng tập trung vào một số lượng chọn lọc nhất định trong các lãnh vực như: chính quyền điện tử, quản lý đô thị, giao thông vận tải, hạ tầng, môi trường, tiết kiệm năng lượng, y tế và sức khỏe, an ninh trật tự, giáo dục, viễn thông,…
Ở Việt Nam, các đô thị sẽ có những nhu cầu ưu tiên tập trung cho một số lĩnh vực nhất định. Tại các đô thị đặc biệt lớn, như Hà Nội và TPHCM, việc ứng dụng các giải pháp công nghệ thông minh có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao cho các yêu cầu bức thiết nhất như quản lý hạ tầng và giao thông, quản lý ngập lụt và môi trường, quản lý hành chính và chính quyền điện tử.
Với đà tiến của khoa học, công nghệ thông tin thường có vòng đời sử dụng ngắn và giá thành ngày càng rẻ hơn. Do đó, trước khi quyết định mua và ứng dụng các công nghệ đắt tiền, cần đánh giá mức độ hiệu quả kinh tế ngắn và dài hạn trước khi quyết định chọn các giải pháp công nghệ.
Hiện nay có rất nhiều công ty, tập đoàn công nghệ trong và ngoài nước muốn bán sản phẩm công nghệ giúp xây dựng đô thị thông minh như IBM, Cisco, Microsoft, VNPT, FPT,… Chính quyền cần sáng suốt chọn các công nghệ đã được thực hiện thành công với hiệu quả kinh tế cao so với vốn đầu tư, và tránh chọn các công nghệ mới và tốn kém nhưng còn đang được thử nghiệm.
Tạo dựng cơ cấu quản lý thông minh trên nền tảng “Hợp tác Nhóm”: Đô thị thông minh hoạt động do con người và vì con người. Con người là chủ thể, công nghệ chỉ đóng vai trò hỗ trợ việc quản lý đô thị sao cho hiệu quả.
Các hoạt động quản lý và sử dụng công nghệ thông minh cần đặt trên nền tảng hợp tác nhóm, bao gồm việc đào tạo cán bộ quản lý biết phối hợp thông qua công nghệ thông minh, bồi dưỡng cư dân biết hợp tác và sử dụng các ứng dụng thông minh. Việc hợp tác giữa các nhóm quản lý đô thị theo chuyên đề và các nhóm người sử dụng là hoạt động trung tâm và quan trọng nhất trong việc đem lại hiệu suất ứng dụng công nghệ cao và hiệu quả.
“Cải tổ Tư duy và Hệ thống Quản lý” phù hợp với việc áp dụng công nghệ thông minh: Việc tích hợp công nghệ thông minh sẽ không hiệu quả nếu không thực hiện song hành với việc cải tổ hệ thống, đổi mới tư duy quản lý đô thị theo khoa học.
Việc tạo lập nền tảng pháp lý cho Chính sách và Tổ chức Quản lý Đô thị thông minh cũng rất quan trọng. Cho đến hiện nay, Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 – 2020, là văn bản pháp luật duy nhất nói về xây dựng thành phố thông minh trong nước.
Chính phủ cần nhanh chóng lập một chiến lược quốc gia về phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam và các nghị định, quyết định, thông tư hướng dẫn kèm theo, không chỉ về mặt công nghệ mà cả về mặt đổi mới tư duy quản lý và cải tổ cơ cấu tổ chức hành chính đô thị phù hợp với xu hướng đô thị thông minh kết nối mạng, để hướng dẫn cho các đô thị trong nước có thể lập kế hoạch phát triển đô thị thông minh, vừa phù hợp với nhu cầu của địa phương, vừa hướng đến việc kết nối liên thông với nhau trong tương lai theo môt chiến lược quốc gia thống nhất.
Tối ưu hóa hiệu quả ứng dụng công nghệ Thông minh thông qua “Kết nối Thông tin đa chiều”: Chất lượng thông tin và kết nối thông tin đa chiều giúp tối ưu hóa hiệu quả ứng dụng công nghệ thông minh cho việc quản lý đô thị, đặc biệt là quản lý giao thông và chính quyền điện tử.
Để làm được điều này, các sở và ban ngành cần thường xuyên cập nhật thông tin lên mạng cơ sở dữ liệu dùng chung, ví dụ mạng GIS và mạng thông tin hành chính đô thị, theo một tiêu chuẩn thống nhất với một độ chính xác cao. Khi đảm bảo được chất lượng thông tin đầu vào, thì các cơ quan quản lý có thể đưa ra giải pháp đầu ra thực sự thông minh và có chất lượng.
Trong quản lý giao thông, việc tích hợp thông tin camera về tình trạng giao thông đô thị và giao thông công cộng với việc hiển thị lên mạng internet và mạng điện thoại di động, sẽ giúp cho việc điều hành giao thông hiệu quả, giúp người dân được cảnh báo sớm để cùng tham gia, tránh những tuyến đường đang bị ách tắc và chọn giải pháp giao thông phù hợp.
Giải quyết các vấn đề trọng điểm của Đô thị bằng “Tư duy đa ngành”, ứng dụng công nghệ thông minh: Nhiều vấn đề trọng điểm của đô thị có thể được xử lý rất hiệu quả thông qua phối hợp đa ngành và công nghệ thông minh. Ví dụ, công nghệ thông minh có thể phối hợp thông tin khí tượng và giao thông, giúp cảnh báo phối hợp các thời điểm và khu vực có khả năng mưa bão gây ngập lụt, có khả năng kẹt xe ở các tuyến đường, kèm theo các hướng dẫn cần thiết để người dân có thể chuẩn bị ứng phó phù hợp với nhu cầu và tình huống.
Với tình trạng các sở và ban ngành tại các đô thị Việt Nam thường hoạt động khá độc lập, ít liên kết với nhau, việc áp dụng công nghệ mới chỉ hiệu quả khi việc đổi mới tư duy theo hướng đa ngành đi trước một bước, bao gồm công tác bồi dưỡng cho các cán bộ quản lý và công tác đào tạo trong đại học và trường chuyên nghiệp.
Để phục vụ cho yêu cầu cần thường xuyên đào tạo nhân lực, nâng cấp hệ thống và phục vụ cho việc phát triển công nghệ thông tin quốc gia trong tương lai, cần khuyến khích xây dựng và phát triển các Tập đoàn Công nghệ, cũng như các khu Đô thị công nghệ, các khu nghiên cứu và phát triển R&D và các Khu Đô thị Đại học tại các vùng đô thị lớn, như Vùng Đô thị Thủ đô Hà Nội, Vùng Đô thị miền Trung, Vùng Đô thị TP Hồ Chí Minh và Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.
Lập “Kế Hoạch Phối Hợp và Giải Pháp Xử Lý Tình Huống” cho suốt quá trình Phát triển đô thị Thông minh: Việc phát triển đô thị Thông minh là một quá trình dài và trong một số trường hợp có nhiều tình huống phát sinh chưa có tiền lệ. Do đó, các địa phương cần được hướng dẫn trong việc lập kế hoạch phối hợp và giải pháp xử lý tình huống.
Trước hết, cần trao trách nhiệm, quyền hạn cho ban chỉ đạo và điều hành phát triển đô thị thông minh, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của UBND và Thành Ủy và sự tham gia của lãnh đạo các sở và ban ngành.
Trong quá trình phát triển, tùy theo nhu cầu phát triển các lĩnh vực trọng điểm trong từng giai đoạn, mà có thể lập ra các tiểu ban chuyên trách với sự tham gia của các sở ngành có liên quan, ví dụ về quản lý giao thông, bảo vệ môi trường và quản lý hành chính điện tử.
Trong tương lai xa hơn, cần xây dựng chiến lược chuẩn bị cho việc phát triển mạng đô thị thông minh trên toàn quốc kết nối tốt với nhau và với các Vùng đô thị, quốc gia và quốc tế.
Cần chuẩn bị nhiều giải pháp tình huống sao cho nếu có xảy ra tình huống sự cố kỹ thuật hoặc tấn công mạng thông tin, hoạt động đô thị vẫn có thể vận hành bình thường theo phương án dự phòng, khi cần thiết cũng có thể sử dụng các giải pháp “không thông minh”, tức là không cần dựa vào thông tin mạng.
Nâng cao giá trị Bản sắc Đô thị Thông minh, xây dựng các cộng đồng sống và làm việc đa dạng với nhiều cấp độ ứng dụng công nghệ thông minh: Với trọng tâm của Đô thị Thông minh là con người, sau đó mới đến quản lý và công nghệ, việc áp dụng công nghệ thông minh cần giúp tăng giá trị sinh hoạt cộng đồng và bản sắc cho đô thị, thay vì làm đô thị trở nên máy móc, vô hồn giống nhau. Để được như vậy, cần chú ý nghiên cứu hiện trạng kinh tế xã hội, nhu cầu sống và làm việc của người dân, để hình thành các cộng đồng sống và làm việc đa dạng với sự hỗ trợ của nhiều cấp độ ứng dụng công nghệ thông minh, bởi vì mỗi cộng đồng trong đô thị sẽ có nhu cầu sử dụng khác nhau về mặt công nghệ cao, thậm chí sẽ có những cộng đồng không mong muốn hoặc không cần đến nhiều ứng dụng công nghệ cao trong cuộc sống.
Học hỏi một cách chọn lọc các Kinh nghiệm Quốc tế về Phát triển Đô thị Thông minh: Kinh nghiệm Phát triển Đô thị Thông minh trên thế giới hiện nay rất phong phú, với các mức độ thành công khác nhau, phần lớn đều đang trong thời kỳ thử nghiệm và phát triển. Ví dụ như chương trình quốc gia thông minh (Singapore), chương trình chính phủ số hóa (Malaysia), đô thị thông minh Fujisawa (Nhật), dự án 100 thành phố thông minh (Ấn Độ),…
Với lợi thế của người đi sau, chúng ta chỉ nên học hỏi và áp dụng chọn lọc cho Việt Nam những kinh nghiệm đã được kiểm chứng thành công. Quan trọng là các bài học kinh nghiệm đó sẽ được thảo luận, chia sẻ và đưa vào một quy chuẩn chung cho toàn quốc, tránh tình trạng các đô thị trên cả nước chọn các công nghệ và cơ cấu quản lý không tương thích với nhau, gây trở ngại cho việc kết nối đô thị thông minh quốc gia sau này./.

TSKH.KTS.NGÔ VIẾT NAM SƠN

TẠP CHÍ KTVN SỐ 207 – 2017

Bình luận