05/09/2014

Cơ sở hạ tầng nông thôn mới 5 năm nhìn lại

Trong chương trình xây dựng nông thôn mới, bước đầu các địa phương ưu tiên dành nhiều nguồn lực cho xây dựng hạ tầng. Đây được coi là yếu tố quan trọng nhất để cải tạo bộ mặt nông thôn, tạo đà cho phát triển kinh tế – xã hội – văn hoá – an ninh và đặc biệt là tăng hưởng thụ trực tiếp cho người dân. 5 năm thực hiện xây dựng nông thôn mới, bộ mặt nông thôn với hệ thống hạ tầng đã có những thay đổi đáng kể. Trong giai đoạn tới, hạ tầng nông thôn vẫn cần sự tập trung đầu tư phát triển có định hướng rõ ràng, cụ thể hướng tới phát triển bền vững để tạo tiền đề cơ sở thúc đẩy sự thành công của một chương trình có nhiều ý nghĩa kinh tế, xã hội.

 

CƠ SỞ HẠ TẦNG ĐỔI THAY MẠNH MẼ THEO NÔNG THÔN MỚI

Qua 5 năm triển khai chương trình xây dựng NTM, đến nay cả nước có gần 30 tỉnh, thành phố đã tổ chức các hội nghị chuyên đề để rút kinh nghiệm về cách làm; công tác tham quan, học tập kinh nghiệm cũng được các địa phương vận dụng trong tổ chức thực hiện các tiêu chí của nhóm cơ sở hạ tầng nông thôn. Công tác quy hoạch xã nông thôn mới đi trước một bước giúp cho việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng từng xã đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ và thống nhất. Các công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng mới, cải tạo và nâng cấp trong các năm qua đã làm thay đổi đáng kể bộ mặt các xã nông thôn trên phạm vi cả nước.

Về giao thông nông thôn: Nổi bật trong thời gian qua là nhiều  địa phương áp dụng chính sách hỗ trợ xi măng, cát sỏi, cống (chiếm khoảng 50% kinh phí xây dựng), cộng đồng dân cư hiến đất, giải phóng mặt bằng, góp tiền, công lao động và vật liệu khác nên đã thúc đẩy tiến độ phát triển giao thông nhanh hơn trước. Tính đến 2013, sau 3 năm thực hiện chương trình, đã có 11% số xã đạt tiêu chí về giao thông nông thôn (tăng 3% so với năm 2012). Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng Quyết định số 315/QĐ-BGTVT ngày 23/02/2011 của Bộ Giao thông vận tải, từ các kiến nghị của địa phương Bộ Giao thông vận tải đang điều chỉnh quy mô các loại đường giao thông nông thôn theo hệ thống chuẩn mới.

Các số liệu thống kê chỉ rõ, đến cuối năm 2011 cả nước đã có 8.940 xã (chiếm 98,6% tổng số xã cả nước) có đường ô tô đến trung tâm xã. Trong đó 7.917 xã có đường ô tô đến trung tâm được nhựa hóa, bê tông hóa (chiếm 87,3%). Một điều đáng chú ý là không chỉ đường đến trung tâm huyện, xã được chú trọng mà đường đến các thôn, bản miền núi cũng được các cấp chính quyền hết sức quan tâm đầu tư với 89,5% số thôn, bản có đường ô tô. Điều đó góp phần thay đổi cuộc sống của người dân nơi vùng cao vốn chịu nhiều thiệt thòi về điều kiện tự nhiên, khí hậu thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng cũng như văn hóa xã hội. Tính riêng giai đoạn 2003 – 2010, cả nước đã đầu tư 749 dự án đường giao thông đến trung tâm xã trên địa bàn các xã nông thôn, miền núi thuộc các vùng: Trung du và miền núi Bắc bộ; Đồng bằng sông Hồng; Duyên hải miền Trung; Tây Nguyên; Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long với tổng mức đầu tư cả giai đoạn phân bổ vốn trái phiếu Chính phủ là 32.951 tỷ đồng.

Về phát triển hệ thống thủy lợi: Sau 3 năm triển khai, đến nay có khoảng 31,2% số xã của cả nước đã hoàn thành tiêu chí này (tăng 3% so với năm 2012). Phần thiết kế hệ thống kênh mương thủy lợi vùng Đồng Bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, vùng Duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và một phần Đồng bằng sông Cửu Long tương đối đảm bảo với quy mô vừa phải, yêu cầu kỹ thuật cơ bản nên dễ đáp ứng được. Riêng vùng miền núi phía Bắc, chất lượng quy hoạch hệ thống thủy lợi còn hạn chế do diện tích của mỗi xã lớn, địa hình chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, khối lượng nội dung quy hoạch mới phức tạp trong khi kinh phí để quy hoạch cũng giới hạn không quá 150 triệu đồng/xã.

laocai

Hạ tầng nông nghiệp nông thôn miền núi Bắc Hà, Lào Cai

Về đầu tư quy hoạch xây dựng hệ thống cấp điện nông thôn, từ năm 2010 đến năm 2013, nguồn vốn huy động đầu tư cải tạo và xây mới hệ thống điện nông thôn khoảng 15.205 tỷ đồng. Đến năm 2013, cả nước có 5.964 xã, tương đương 66,2% đạt chuẩn tiêu chí số 4 về điện. Phần lớn hệ thống cấp điện nông thôn được kế thừa các quy hoạch của ngành điện trước đó, cập nhật và đưa vào các quy hoạch. Bởi vậy, đa phần các địa phương có tới 90% công trình cấp điện được nâng cấp cải tạo. Tuy nhiên, Miền núi phía Bắc và ĐBSCL có số xã đạt chuẩn thấp nhất cả nước bởi địa bàn vùng sâu vùng xa, địa bàn rộng, dân cư thưa thớt, phân tán. Ngành điện đã có kế hoạch xây dựng hệ thống cung cấp điện với thủy điện nhỏ, sử dụng năng lượng mặt trời.

Về quy hoạch và xây dựng hệ thống chợ nông thôn, trong giai đoạn 2010 – 2013, 2.783 tỷ đồng được huy động, chủ yếu là vốn xã hội hoá (chiếm khoảng 79%) để đầu tư cải tạo, xây mới chợ nông thôn. Đến nay, có 2.693 xã, tương đương 30% tổng số xã cả nước đạt chuẩn tiêu chí này. Phần lớn quy hoạch các xã đều có chợ và những tiêu chuẩn kỹ thuật đảm bảo. Tuy nhiên trong xây dựng còn nhiều bất cập, chợ xây xong nhưng bị bỏ không, chưa kết nối để phát triển kinh tế địa phương.

Về cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường và công trình văn hoá xã hội, tính riêng năm 2013, đã nâng cấp hơn 1.000 công trình nước sạch tập trung, 500 bãi thu gom rác thải, 1200 cống rãnh thoát nước thải vệ sinh, sửa chữa, nâng cấp 480 trường học các cấp, 39 trụ sở xã, xây dựng 516 nhà văn hóa thôn, xã, 50 trạm y tế xã, 120 công trình điện, 28 chợ trong quy hoạch. Với một số công trình có thể thu phí, một số địa phương đang áp dụng rộng phương thức đầu tư hợp tác công tư như Hải Dương, Hà Nam (Nhà nước hỗ trợ công trình đầu mối hoặc một phần công trình doanh nghiệp bỏ vốn xây dựng, được thu phí). Các công trình cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường và công trình văn hoá xã hội được đảm bảo về vị trí xây dựng, thiết kế kỹ thuật, cách thức quản lý bởi đa số nằm trong Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã triển khai nhiều năm. Đối với các địa phương còn nằm ngoài chương trình, nhất là vùng địa bàn rộng, điều kiện địa lý khó khăn, không thể thực hiện đồng loạt, mà chỉ có thể làm dần, cuốn chiếu việc quy hoạch mới chủ yếu là các ý tưởng và định hướng ban đầu.

Hệ thống công trình trung tâm xã được quy hoạch đồng bộ, kết cấu hạ tầng của các xã như trung tâm trụ sở, ủy ban, trường học… cũng đã có kế hoạch thực hiện ở một số chương trình khác nên chất lượng được đảm bảo. Riêng hệ thống trường học, y tế trước khi có chương trình NTM đã có chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục, trường học, y tế nên yêu cầu thiết kế cho NTM cũng được cập nhật và bổ sung thêm.

 

NHỮNG VIỆC CẦN LÀM TRONG THỜI GIAN TỚI

Trong quy hoạch kết cấu hạ tầng nông thôn, hầu hết các huyện, các tỉnh thành trong cả nước đều chưa có quy hoạch đồng bộ nên chưa xây dựng được kế hoạch lâu dài để phát triển, tiêu chuẩn kỹ thuật còn thấp nên việc đầu tư còn tự phát, chưa có tính định hướng, gây ảnh hưởng đến việc nâng cấp, cải tạo và phát triển sau này.

Kết cấu hạ tầng khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long còn chậm phát triển. Các công trình tạo nguồn như: trạm bơm điện ở Đồng bằng sông Cửu Long, hồ chứa ở các tỉnh miền núi, duyên hải Nam Trung Bộ… còn thiếu. Một số địa phương huy động quá sức dân hoặc kêu gọi doanh nghiệp ứng vốn làm trước, thanh toán sau nên xảy ra tình trạng nợ đọng kéo dài. Bên cạnh đó mô hình xã hoàn chỉnh về hạ tầng để các địa phương lân cận học tập, vận dụng chưa được hình thành. Việc quản lý, duy tu và bảo dưỡng các công trình hạ tầng còn bất cập dẫn đến nhanh xuống cấp và phát huy hiệu quả ở mức thấp. Đặc biệt cơ chế tài chính và nguồn vốn để duy tu, bảo dưỡng công trình chưa được coi trọng.

Việc quy hoạch nâng cấp cải tạo khu dân cư nông thôn, đặc biệt là nhà ở nông thôn phần nhiều mang tính tự phát. Việc áp dụng theo mẫu chuẩn rất hạn chế vì nguồn lực xây dựng nhà ở chủ yếu nằm trong từng hộ gia đình. Đa phần người dân vẫn tự phát theo thói quen do không tiếp cận đượcnhững mẫu điển hình trong xây dựng. Hơn nữa, người dân còn lúng túng trong quá trình thực hiện bởi liên quan đến các vấn đề quản lý và định hướng chung như phân bố đất đai, kiến trúc nhà ở hiện đại nhưng mang bản sắc vùng, miền. Một số trường hợp có thể đưa vào áp dụng được ở mức độ nhất định là các khu di dân tái định cư trong các dự án thu hồi đất đai, tái định cư khu mới.

Xét về mạng lưới đường giao thông, hiện nay trên cả nước có trên 295.046km đường bộ, trong đó hệ thống giao thông nông thôn (đường huyện, đường xã, đường thôn) chiếm tới 85%. Nếu xét trên diện rộng, mật độ giao thông nông thôn trên cả nước còn thấp (0,59km/km2). Tại khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng, mật độ này có cao hơn (khoảng 1,16km/km2) song còn xa mới đạt được tỷ lệ hợp lý (trung bình ở các nước phát triển tỷ lệ chiều dài km đường nông thôn trên diện tích khoảng 8,86km/km2).

Cần xác định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn phải đi trước một bước trong xây dựng nông thôn mới, hiện đại hóa nông thôn. Nguồn lực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn cần được huy động và ưu tiên từ nhiều nguồn khác nhau: ngân sách Nhà nước Trung ương và địa phương, vốn ODA, ngoài ra sẽ tích cực huy động từ người dân, các doanh nghiệp khai thác quỹ đất; tích cực vận động nhân dân hiến đất làm đường mới và mở rộng đường cũ, nhân rộng mô hình nhà nước hỗ trợ vật tư, vật liệu, nhân dân đóng góp công sức; sử dụng tư vấn giám sát cộng đồng. Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cần được ưu tiên để hoàn thành các đường ô tô tới các trung tâm xã hiện đang khó khăn, bị chia cắt; các khoản vay ODA lớn cần tập trung chú trọng vào các dự án hạ tầng có quy mô lớn, hiện đại và đồng bộ hỗ trợ phát triển kinh tế cho tỉnh hoặc cả một vùng.

Trong thời tới, cần tiếp tục hoàn thiện quy hoạch NTM để đưa vào thực hiện. Nghiên cứu, bổ sung kinh phí hỗ trợ các địa phương hoàn thành dứt điểm công tác quy hoạch, nhất là ở các xã khu vực miền núi, Tây nguyên. Bên cạnh đó việc rà soát bổ sung kịp thời các quy hoạch, hoàn thiện quy hoạch chi tiết hạ tầng, cắm mốc chỉ giới các công trình hạ tầng sau quy hoạch và công bố rộng rãi quy hoạch để nhân dân biết cũng cần được chú trọng. Kể cả các địa phương đã có quy hoạch, trước khi triển khai cần rà soát lại và điều chỉnh bổ sung, soi xét kỹ hơn dưới góc độ yêu cầu cụ thể. Các địa phương cần chú ý học hỏi những kinh nghiệm của những trường hợp đi trước để có những điều chỉnh cho phù hợp. Cần có sự kết hợp của địa phương, cấp xã cũng như cấp huyện quản lý trên địa bàn. Bộ Xây dựng cần sớm ban hành quy chế quản lý quy hoạch mẫu để các xã có căn cứ thực hiện.

Công tác xây dựng hạ tầng thiết yếu cũng cần đuợc tập trung đầu tư: giao thông, thuỷ lợi, nước sinh hoạt. Cơ bản hoàn thành giao thông đến trục thôn, xóm.  Ưu tiên lựa chọn triển khai các công trình hạ tầng cơ bản, thiết yếu: giao thông, điện, thủy lợi, nước sạch, trường học, trạm xá (vùng sâu, vùng cao), ưu tiên cho công trình ở cấp thôn hoặc trực tiếp gắn với phát triển sản xuất và đời sống thường nhật của người dân. Trong đó, chú trọng thực hiện các nội dung cần ít vốn nhưng có hiệu quả cao, phù hợp với nguyện vọng của người dân và nguồn lực có thể huy động. Việc lựa chọn ưu tiên nâng cấp công trình hiện có, nhất là các công trình phục vụ sản xuất cần được chú ý.

Bên cạnh đó cần phát huy cao sự tham gia của nhân dân trong tổ chức và giám sát cộng đồng nhằm tạo sự chuyển biến tới từng hộ gia đình và thôn xóm. Xây dựng hạ tầng nông thôn mới là chương trình được thực hiện ở cấp cơ sở (cấp xã), triển khai gần như đồng loạt tại tất cả các xã trên cả nước nên nếu chỉ dựa vào nguồn lực từ Trung ương, Nhà nước là chưa đủ, do vậy cần thiết huy động nguồn lực cộng đồng. Các bài học, kinh nghiệm, cách làm khi xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng (đường giao thông, kênh mương thủy lợi, …) theo cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng làm cần được kế thừa, vận dụng trong điều kiện xây dụng NTM hiện nay.

Cơ chế Nhà nước và Nhân dân cùng làm trước đây đã có nhưng chủ yếu tập trung ở một hạ tầng nào đó như đường giao thông, kênh mương nội đồng… giờ triển khai ở tất cả các nội dung đối với cơ sở hạ tầng. Cơ chế đó gắn với pháp lệnh dân chủ sơ sở năm 2007 cũng đã quy định: Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng; Các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, ngoài hỗ trợ từ nguồn ngân sách việc huy động nguồn lực trong dân đã có những tác động tích cực: khối lượng công việc làm được nhiều hơn, đẩy nhanh tốc độ để hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn. Có sự giám sát của cộng đồng, người dân giúp cho chất lượng công trình tốt hơn, đảm bảo hơn. Tùy theo từng loại hình công trình, đặc tính kỹ thuật và tùy theo quy định của từng địa phương cần có những cơ chế hỗ trợ cụ thể mà chủ yếu là cấp xi măng và một phần cát sỏi, kinh phí vừa phải từ 2 – 5 triệu đồng cho thiết kế, giám sát trong quá trình thực hiện.

Ngoài ra cần quan tâm nhiều hơn đến các công trình cơ sở hạ tầng tiêu thoát, xử lý nước sinh hoạt các khu dân cư tập trung; các hệ thống, công trình xử lý môi trường cho các khu chăn nuôi, sản xuất, phát triển kinh tế khác trên địa bàn mỗi xã. Đây là các công trình quan trọng trong xây dựng NTM. Các nội dung này chưa được quan tâm đầy đủ ngay từ công tác quy hoạch cho đến việc triển khai thực hiện tại các xã NTM hiện nay.

Trong thời tới cần tiếp tục hoàn thiện quy hoạch nông thôn mới để đưa vào thực tiễn. Cần nghiên cứu, bổ sung kinh phí hỗ trợ các địa phương hoàn thành dứt điểm công tác quy hoạch, nhất là ở các xã khu vực miền núi, Tây nguyên. Bên cạnh đó việc rà soát bổ sung kịp thời các quy hoạch, hoàn thiện quy hoạch chi tiết hạ tầng, cắm mốc chỉ giới các công trình hạ tầng sau quy hoạch và công bố rộng rãi quy hoạch để nhân dân biết cũng cần được chú trọng.

 

TS.Nguyễn Quang Dũng – Quyền Viện trưởng Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông Nghiệp Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn

 

Bình luận