Tìm kiếm Nhận bản tin kiến trúc English
Thứ năm, 28/08/2014, 16:21 GMT+7 Thông tin tòa soạn   |  Liên hệ quảng cáo   |  Đặt báo
 
Trang chủ
Tin tức - Sự kiện
Đô thị tương lai
Vấn đề quan tâm
Tiếp nối bản sắc kiến trúc đô thị
Phát triển đô thị di sản Huế
Nông thôn mới - Kinh nghiệm quốc tế
Nhìn lại kiến trúc, quy hoạch nông thôn mới
Tái thiết đô thị
Nhà ở tái định cư - Bất cập và giải pháp
Rào cản những công trình tốt ở Hà Nội?
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ - Khó khăn & thách t
Bảo tồn và phát triển khu phố Pháp tại Hải Phòng
Đường sắt đô thị
Làng cổ Đường Lâm - Bảo tồn và Phát triển
Nhà ở xã hội - Đòn bẩy chính sách
Giải pháp giảm giá nhà ở
Phát triển công trình XANH ở Việt Nam?
Công nghệ vật liệu mới
Diễn đàn
Giáo dục - Đào tạo
Doanh nghiệp - Dự án
Tác giả - Tác phẩm
Đô thị - Cuộc sống
Góc thiết kế
Địa phương: Tiềm năng & Phát triển
Nhìn ra thế giới
Sắc màu nội thất
Mục lục
 
 
Số người truy cập: 49366008
 
 
Vấn đề quan tâm
Một vài đánh giá ban đầu của cư dân về các khu đô thị ở Hà Nội 
Những năm gần đây mô hình các Khu đô thị mới (KĐTM) hay Khu đô thị (KĐT) đã trở nên khá quen thuộc với cư dân các đô thị lớn như Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, các cuộc khảo sát, điều tra, đánh giá về mô hình này chưa nhiều, nhất là từ ý kiến của cư dân - những người đang sống trong các KĐT.


Nhằm bước đầu tìm hiểu những đánh giá và cảm nhận của người dân về các KĐT tại Hà Nội, trong tháng 8/2012 vừa qua, một nhóm cán bộ nghiên cứu xã hội học và quy hoạch đô thị (của Viện Xã hội học và Viện Kiến trúc Quy hoạch Đô thị Nông thôn) đã tiến hành một khảo sát nhỏ trên tổng số 48 hộ gia đình (HGĐ) đang sinh sống tại 4 KĐT của Hà Nội (mỗi KĐT phỏng vấn 12 HGĐ): KĐT Linh Đàm, KĐT Trung Hòa - Nhân Chính, KĐT Việt Hưng và KĐT Ciputra.


Mặc dù mẫu nghiên cứu như vậy là rất nhỏ, chưa thể đại diện cho các KĐT của thành phố, song một số thông tin thu được tỏ ra khá lý thú để những ai quan tâm cùng tham khảo, hoặc để tiếp tục nghiên cứu, khảo sát rộng hơn nhằm kiểm định các thông tin từ cuộc khảo sát này.

 

I. THỜI GIAN SỐNG TẠI KĐT VÀ SƠ BỘ SO SÁNH VỚI NƠI Ở CŨ 


Gần một nửa số HGĐ được hỏi đã sống ở 4 KĐT này trên 5 năm. Riêng với KĐT Linh Đàm thì 100% số HGĐ được hỏi đã sống ở đây trên 5 năm.  Khi được đề nghị so sánh giữa nơi ở trong KĐT hiện nay và nơi ở cũ, đa số (43/48 ý kiến) đã khẳng định nơi ở hiện nay tốt hơn nơi ở cũ trên các phương diện sau:


- An ninh tốt hơn

- Rộng rãi thoáng mát, yên tĩnh, thoải mái, môi trường trong lành hơn (ít bụi bặm, vệ sinh, sạch sẽ hơn);

- Văn minh hơn, môi trường sống thân thiện, riêng biệt (khép kín);

- Thuận tiện giao thông, đường đi cho ô tô.


Chỉ có 5 ý kiến cho rằng nơi ở mới chưa tốt hơn vì:


- Còn xa trung tâm/nơi làm việc;

- Không tiện giao thông đi lại;

- Ồn ào, mật độ đông, nhà chật hơn;

- Phụ thuộc nhiều vào các dịch vụ không sẵn có tại KĐT.

 

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN SỐNG TẠI 4 KĐT


Các HGĐ được hỏi ý kiến đã đánh giá bằng một thang đo 5 điểm về những điều kiện nói chung của KĐT nơi họ đang sống theo 5 tiêu chí sau:


- Địa điểm và vị trí

- Cơ sở hạ tầng

- Các dịch vụ công cộng (DVCC)

- Môi trường tự nhiên

- Môi trường xã hội


Kết quả đánh giá theo điểm số trung bình của từng tiêu chí và theo từng KĐT được cho ở bảng dưới đây. Cột cuối là điểm số tính chung cho cả  4 KĐT. Dòng cuối là tổng điểm của mỗi KĐT đối với 5 lĩnh vực được đánh giá.


Kết quả đánh giá chung về môi trường sống của 4 KĐT (H1)


Như các con số trên bảng cho thấy, nhìn chung, điểm số đánh giá của người dân đối với cả 4 KĐTM được khảo sát là tương đối khả quan. Điểm số chung cho mỗi lĩnh vực dao động trong khoảng từ 3,5 - 4,0 điểm trên thang đo 5 điểm.


Điểm số cao nhất là đánh giá về Môi trường sống (4/5 điểm). Riêng ở KĐT Ciputra chỉ báo này đạt gần điểm tuyệt đối (4,83/5 điểm). Điểm số  thấp nhất cho cả 4 KĐT là đánh giá về DVCC (3,48 / 5 điểm), trong đó KĐT Trung Hòa - Nhân Chính có điểm số thấp nhất trong số 4 KĐT - chỉ đạt 2,92/5 điểm.  


Giữa các KĐT, trong 5 lĩnh vực được đánh giá, thì môi trường sống (tự nhiên) có điểm cao nhất 4/5, đặc biệt là tại KĐT Ciputra và KĐT Việt Hưng. Tiếp đến, đánh giá về địa điểm và vị trí thuận lợi, với điểm số cao nhất là KĐT Việt Hưng; Thứ ba, đánh giá về môi trường xã hội, điểm cao nhất vẫn thuộc về KĐT Ciputra; Thứ tư, đánh giá về cơ sở HTKT (cao nhất là Ciputra, thấp nhất là Trung Hòa - Nhân Chính);  Thứ năm, đánh giá về các DVCC, điểm số cao nhất thuộc về KĐT Việt Hưng và thấp nhất thuộc về KĐT Trung Hòa - Nhân Chính (dưới 3 điểm).


Chỉ số đánh giá tổng hợp cho cả 5 lĩnh vực chính là tổng số điểm đánh giá cho của mỗi KĐT. Trung bình, chỉ số này là 18,94 điểm / tổng số điểm trần là 25 (5 chỉ báo x 5 điểm).


Đối với từng KĐT thì trong số 4 KĐT được khảo sát, KĐT Ciputra đạt điểm đánh giá cao nhất với tổng số 20,99 điểm / 25. Ba KĐT còn lại có tổng điểm xoay quanh số 19 (Việt Hưng và Linh Đàm). Riêng KĐT Trung Hòa - Nhân Chính đạt thấp nhất 15,84 điểm.


Ciputra có tổng điểm đánh giá cao hơn tổng điểm trung bình 2,05 điểm. Như trên đã nói, Ciputra cũng là KĐT đạt được điểm đánh giá cao nhất về 3 lĩnh vực: Môi trường tự nhiên, Môi trường xã hội và Cơ sở HTKT.

Các số liệu kết quả này cũng được thể hiện dưới dạng biểu đồ hình mạng nhện, qua đó có thể nhận dạng và so sánh bằng trực giác cả tình hình chung của các KĐT cũng như những khác biệt giữa các KĐT theo 5 tiêu chí đánh giá.  (H2)



III.PHƯƠNG TIỆN ĐI LẠI CHỦ YẾU CỦA CƯ DÂN CÁC KĐT

Cũng như thực trạng chung của toàn thành phố, phương tiện đi lại chủ yếu của cư dân ở các KĐT là xe máy cá nhân. Ngoại lệ, KĐT Ciputra được biết đến như là khu ở của nhóm thu nhập cao, có gần một nửa số HGĐ được hỏi đi lại bằng ô tô cá nhân (H3).


Có khoảng trên 1/3 số người được hỏi (19/48 người) có sử dụng xe bus, trong đó, chỉ có 1 người sử dụng hàng ngày. Còn lại hầu hết chỉ sử dụng vài lần / tháng.


Khoảng một nửa số HGĐ được hỏi ở cách bến xe bus gần nhất dưới 500m. Gần 1/4 số hộ ở cách bến xe bus hơn 1 km.


Về khoảng cách đi làm, gần một nửa số HGĐ được hỏi phải đi làm xa cách nhà ở trên 10 km, 1/3 trong phạm vi 5 - 10 km. Đây là một yếu điểm của các KĐT về vị trí so với trung tâm thành phố.


Như vậy, việc khuyến khích sử dụng phương tiện đi lại công cộng trong thành phố nhằm thay thế các phương tiện cá nhân trên thực tế đã không có hiệu quả ở các KĐT được khảo sát. Nguyên nhân nằm cả ở tâm lý người dân lẫn điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông công cộng nơi đây vẫn chưa thuận tiện. Cần nhiều nỗ lực lớn hơn, trong đó các KĐT cần hoàn thiện hơn việc kết nối với các trung tâm của thành phố bằng các phương tiện giao thông công cộng thuận tiện.  

 

IV. KẾT NỐI VỚI KHU TRUNG TÂM THÀNH PHỐ VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ HÀNG NGÀY


Cư dân ở 4 KĐT được khảo sát kết nối về không gian với khu trung tâm thành phố ở mức độ vừa phải.  Ở cả 3 mức độ: “hàng ngày”, “vài lần /tuần” và “vài lần/ tháng” đều có khoảng gần 30% các HGĐ ghi nhận thường lui tới Khu trung tâm. Mục đích của các chuyến đi được phân bố không đều: hơn một nửa (54,2%) các chuyến đi là đến nơi làm việc; khoảng 40% là đi mua sắm hoặc / hoặc vui chơi giải trí. 12,5% các chuyến đi là thăm bạn bè và người thân.


Đặc biệt, tại cả 4 KĐT được khảo sát, các siêu thị nhỏ hoặc chợ truyền thống ở ngoài / xung quanh/ gần KĐT là 2 địa điểm được hầu hết các HGĐ lui tới mua sắm ở những mức độ khác nhau... 58% các HGĐ hàng ngày mua thức ăn ở các chợ gần KĐT, trong khi tỷ lệ mua thức ăn hàng ngày ở các siêu thị nhỏ trong KĐT chỉ là 6,3%. Điều này phản ánh sức hấp dẫn của các siêu thị nhỏ tại các KĐT vẫn còn kém xa thói quen mua sắm ở các chợ truyền thống. Việc mua thức ăn ở các siêu thị nhỏ trong KĐT thường chỉ ở mức độ thưa thoáng: vài lần tuần, vài lần tháng hoặc hiếm khi. Điều này cũng đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu ở quy mô toàn thành phố. Các đồ gia dụng cũng không phải là mặt hàng dễ tìm thấy ở các cửa hàng trong KĐT. 87,6% các HGĐ không bao giờ hoặc “hiếm khi” mua sắm ở đây.

           

V. QUAN HỆ HÀNG XÓM VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG CÁC KĐT


Các lý thuyết về Đô thị hoá và Xã hội học đô thị đều nhấn mạnh đến những đặc trưng của quan hệ này tại các đô thị hiện đại. Theo đó, tại các đô thị lớn, những quan hệ cộng đồng, hay là quan hệ “sơ cấp”/ truyền thống, như hàng xóm, họ hàng cùng với quá trình CNH, đô thị hóa có xu hướng ngày một giảm sút, thậm chí biến mất. Thay thế vào đó là các quan hệ chức năng/ hiện đại như quan hệ theo các nhóm nghề nghiệp, mức sống, nhóm sở thích, các hiệp hội không chính thức…


Tuy nhiên, rất nhiều nghiên cứu XHH đô thị ở phương Đông và Việt Nam không ủng hộ kết luận này. Cuộc khảo sát tại 4 KĐT ở Hà Nội lần này cũng cho kết quả tương tự. Cụ thể, quan hệ xóm giềng và cộng đồng vẫn còn khá mạnh mẽ trong cư dân của các KĐT, mặc dù ban đầu họ là những người không quen biết nhau từ nhiều nơi về sinh sống ở đây.  


Không một HGĐ nào nói rằng họ “không biết gì về hàng xóm”. Gần một nửa số hộ được phỏng vấn ghi nhận thường “chào hỏi hàng xóm khi gặp nhau” ở ngoài nhà. Một nửa số ý kiến khẳng định họ “biết tên” hàng xóm, và “đôi khi nói chuyện” với nhau. Cao nhất, có đến 85% khẳng định, họ “thỉnh thoảng” có “giao lưu nói chuyện” với hàng xóm. Đặc biệt 18% người  được phỏng vấn nói họ coi hàng xóm “như bạn thân”. Có vẻ như các KĐT càng “nhiều tuổi” thì dân cư càng gắn bó với nhau bằng quan hệ xóm giềng hơn. Chẳng hạn tỷ lệ HGĐ coi hàng xóm như bạn bè ở KĐT Linh Đàm tới 1/3, ở KĐT Trung Hòa - Nhân Chính là ¼. Trong khi ở KĐT Việt Hưng (“trẻ” nhất) không có HGĐ nào ghi nhận mức độ này. 


Trung bình, một HGĐ ở các KĐT này có quen biết tới 10 gia đình “hàng xóm”. Còn tần suất giao lưu với hàng xóm thường ở mức “vài lần trong tháng” (60%) đến “vài lần trong tuần” (30%). Một số HGĐ giải thích vì họ thường cùng nhóm tuổi, và đặc biệt có con nhỏ cũng tuổi sàn sàn như nhau, nên nhiều khi chính trẻ con là nhân tố kết nối sự quen biết và tình cảm hàng xóm, láng giềng (cùng đưa con đi nhà trẻ hay đưa đi học…).

Đáng ngạc nhiên hơn nữa là có tới 75% HGĐ được hỏi ý kiến đều xem hàng xóm là những người  “có thể nhờ cậy” khi có việc cần sự giúp đỡ.


Rõ ràng là tính cộng đồng của cư dân sống ở cả 4 KĐT được khảo sát đều khá cao. Và điều này cũng tương ứng với việc các HGĐ được phỏng vấn đã cho điểm đánh giá khá cao, hay thể hiện những cảm nhận rất tích cực của họ về một “môi trường xã hội” trong các KĐT này. Tính chung cho cả 4 KĐT, điểm đánh giá về “môi trường xã hội” là 3,83/ 5 điểm; điểm cho “mức độ thân thiện của dân cư” là 3,94/5; còn cảm nhận “Nhìn chung, quan hệ hàng xóm ở đây là tốt” có từ 90 - 100 % người được hỏi chia sẻ.


Ngoài ra, một số chỉ tiêu đánh giá khác cũng đã được phân tích và đưa chúng tôi đi đến một nhận xét sơ bộ là: Các KĐT được khảo sát đã đáp ứng được đa số những đòi hỏi, mong muốn của người dân về một nơi ở chấp nhận được theo mô hình các KĐT. Trong một chừng mực nhất định, có thể ước lượng tính bền vững (về cả 3 chiều cạnh: kinh tế, xã hội, môi trường) của các KĐT này đạt được ở mức 75% so với mức cao nhất của thang đo 5 điểm. 


Những điểm yếu của mô hình KĐT hiện nay là: cơ sở HTKT, đặc biệt là các dịch vụ công cộng truyền thống (như chợ, trường học), việc duy tu bảo dưỡng, sự thuận tiện của Phương tiện giao thông công cộng và chất lượng thiết kế từng đơn vị ở và của cả KĐT được nhiều HGĐ chỉ ra trong khảo sát này.


Như đã nói từ đầu, các kết quả này chỉ có giá trị tham khảo. Vì vậy rất cần có các nghiên cứu quy mô lớn hơn, chi tiết hơn để có những đánh giá sát thực hơn cho nhiều loại KĐT ở Hà Nội hiện nay.    


GS.TS.Trịnh Duy Luân

Nguồn ảnh: Phú Đức
Theo Tạp Chí Kiến Trúc Việt Nam số 12/2012



Bài mới
  Chuyên đề : Tiếp nối bản sắc kiến trúc đô thị
  Chiến lược quy hoạch kiến trúc & Bảo tồn phát triển bản sắc Đô thị Huế trong thế kỷ 21
  Đô thị Huế "chọn" hướng đi dúng và bền vững
  Chuyên đề: Phát triển đô thị di sản Huế
  Phong trào Saemaulundong & Mô hình làng mới Hàn Quốc
Bài đã đăng
  Giải nén khu đô thị Việt Nam
  Kế thừa cấu trúc "Nén" đô thị truyền thống
  Việt Nam cần một mô hình đô thị mật độ cao
  Sức sống đô thị nén
  Phát triển đô thị - Tập trung hay dàn trải
 
QUẢNG CÁO
 
 

Website KIẾN TRÚC VIỆT NAM 

Cơ quan thiết lập: Tạp chí Kiến trúc Việt Nam
Địa chỉ:  Số 389 Đội Cấn - Ba Đình - Hà Nội

Điện thoại: 043.7620132   Email: tcktvn@gmail.com

Giấy phép của Bộ thông tin và truyền thông số 120/GP –TTĐT;        Người chịu trách nhiệm chính: Tổng biên tập Phạm Thị Thanh Huyền
Bản quyền thuộc về Tạp chí Kiến trúc Việt Nam. Ghi rõ nguồn khi lấy lại thông tin từ Website này.

Powered by Time Universal Communications
Liên hệ quảng cáo   |  Liên hệ