Đất nước ta có truyền thống thờ cúng tổ tiên, thờ các danh nhân, các anh hùng cứu nước, các nhà văn hóa kiệt xuất, nhiều bậc được suy tôn “hiển thánh”. Gia đình thờ ông bà, cha mẹ; dòng họ thờ cụ tổ họ; làng xóm thờ Thành Hoàng làng. Đó là những không gian tâm linh không thể thiếu trong đời sống người dân Việt.
Kinh đô xưa có “Thăng Long tứ trấn”, tương truyền là để ngăn cản các thế lực thù địch. Theo Kinh dịch, khoa học phong thủy xưa (mà ngày nay khoa học hiện đại đang nghiên cứu) chứng minh thuật ngữ “trấn” có giá trị đặc thù. Ngoài ý nghĩa thực dụng, thiên về quân sự, bài binh bố trận, lập đồn, đắp lũy để giữ yên bờ cõi, “trấn” giữ một phương... nó còn có ý nghĩa tâm linh. Vị thần “trấn” giữ một khoảng vũ trụ ảo, để chống các thế lực tàn bạo trong hư vô, che chở cho cư dân, như là chỗ dựa tinh thần cho cộng đồng.
Vậy nên “Thăng Long tứ trấn”, được coi là “sáng kiến” của vua Lý Thái Tổ khi tổ chức lại đất nước, xây dựng kinh đô mới, nhờ oai linh của Huyền Thiên trấn vũ để trấn phương Bắc (đền Quán Thánh); Cao Sơn Đại Vương trấn phương Nam (đình Kim Liên); Linh Long Đại Vương trấn phương Tây (đền Voi phục), Thần Long Đỗ, Bạch Mã đại vương trấn phương Đông (Đền Bạch Mã). Chính những thế lực siêu nhiên này đã làm yên lòng dân và cả triều đình. Có lẽ, vì thế mà “Thăng Long tứ trấn” được các thế hệ sau này lưu giữ, còn lại nguyên vẹn cho đến ngày nay. Ngày xuân, nhớ về cội nguồn, ta thử dạo một vòng thăm “Thăng Long tứ trấn”. Vì mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, nên giá trị kiến trúc truyền thống cũng tương xứng.
|
 Đền Voi phục - Trấn phương Tây của Hà Nội
|
Đền Bạch Mã - Trấn phương Đông
Đền được xây dựng từ thế kỷ IX thờ thần Long Đỗ (rốn rồng), vị thần gắn liền với kỳ tích lập nên thành Thăng Long.
Truyền thuyết kể lại rằng, mùa thu năm Canh Tuất (1010), khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, vua cho xây đắp thành. Nhưng lạ thay, thành cứ xây, cứ đắp lại sụp đổ. Vua cầu khấn thần Long Đỗ, bỗng thấy ngựa trắng trong đền đi ra. Các quan hộ công dựa theo dấu vết chân ngựa xây thành, không còn chuyện sụp đổ. Tưởng lệ công đức ngài, vua sắc phong thần Long Đỗ làm Thành Hoàng kinh thành Thăng Long! Thật là độc nhất, không có trường hợp thứ hai. Do hình tượng ngựa trắng nên đền có tên gọi “Bạch Mã”.
Đền có kiến trúc khá lớn, giáp 2 mặt phố. Các hạng mục được bố trí theo chiều dọc, sâu vào phía trong với đủ: Nghi môn, phương đình, đại bái, thiêu hương.
Đền còn lưu giữ nhiều di vật cổ có giá trị: bia đá, sắc phong, kiệu thờ, hạc thờ, ngựa thờ... Qua ngàn năm lịch sử, đền Bạch Mã đã trởi thành tư liệu quý để nghiên cứu về Thăng Long.
Đền Quán Thánh - Trấn phương Bắc
Đền thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, trấn phương Bắc. Có mặt trước quay ra Hồ Tây với tứ trụ - xưa thuộc phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức. Quy mô kiến trúc lớn, sân vườn thoáng rộng nhất trong tứ trấn. Vị trí thuận lợi, cảnh quan đẹp, tư liệu lịch sử phong phú, kiến trúc nội thất tinh xảo, bề thế, sân rộng lát gạch Bát Tràng phía trước, khách thập phương đến cúng lễ và khách du lịch đến thăm khá đông.
|
 Pho tượng đồng đen Huyền Thiên Trấn Vũ
|
Đền có nhiều hoành phi, câu đối, cuốn thư... những tinh hoa văn học không chỉ của đất Tràng An mà của cả nước. Với gác chuông, với những lớp “trùng thiềm, điệp ốc” đặc sắc trong nghệ thuật kiến trúc tâm linh truyền thống. Đỉnh cao của nghệ thuật, kỹ thuật tạo hình ở đây là pho tượng đồng Trấn Vũ cao 4m, nặng khoảng 4 tấn đúc năm 1668. Tượng đặt trên bệ đá hình đài sen bát giác, bốn cạnh lớn dài 2,2m, cạnh nhỏ dài 0,7m. Điều đặc biệt là cạnh đó có tượng đồng nhỏ hơn, là tượng người thợ cả, đứng đầu hiệp thợ đúc tượng. Thử hỏi, đã mấy nơi tôn vinh người lao động như vậy!
Đền Voi Phục - Trấn phương Tây
Đền xây dựng trên gò cao, soi bóng xuống mặt nước, cách đường giao thông một đoạn dài vừa đủ cho khách viếng thăm chìm dần trong u hoài. Điều đặc biệt là từ đường thành phố đi vào là rừng cây lan, lim, nhất là cây muỗm đã nhiều trăm tuổi, cành lá rậm rạp, chỉ từng tia nắng nhỏ chiếu xuống đường lát gạch chỉ nghiêng dẫn vào đền.
|
 Đền Bạch Mã trước khi tôn tạo
|
Đền thờ Hoàng tử Hoàng Chân (Linh Lang đại vương), con trai vua Lý Thái Tông (1028 -1054), nơi đây vốn là phủ đệ của Hoàng tử, sinh thời Hoàng tử đã giúp Lý Thường Kiệt diệt giặc Tống bên sông Như Nguyệt (Kinh Bắc). Nhà vua sắc phong cho Hoàng tử là Linh Lang tướng quân và lập đền thờ tại nơi ở cũ. Xây dựng từ năm 1065 đời vua Lý Thánh Tông.
Gần đường thành phố là Nghi môn (cổng ngoài) có đắp nổi đôi voi phủ phục, nên mang tên là đền Voi Phục, qua tam quan là đền chính gồm 5 gian tiền tế, 2 gian trung tế, 3 gian hậu cung.
Đền còn lưu giữ được nhiều hiện vật, tư liệu giá trị: thần tích, chuông đồng, bài vị, hạc, ngựa thờ, bát bửu, hoành phi, câu đối.
|
 Đền Quán Thánh sau khi được tôn tạo lại
|
Đình Kim Liên - Trấn phương Nam
Đình thờ Cao Sơn đại vương, trong hệ thống huyền thoại từ buổi dựng nước, được lập đền thờ ở nhiều nơi trên đất nước, với nhiều dị bản đặc sắc.
Đình xây dựng trên gò đất hơi cao hơn xung quanh. Bố cục kiến trúc có 2 phần: phía trước là trụ biểu, hai dãy giải vũ tả hữu hai bên sân gạch. Qua sân gạch vồ là phần chính của đền. Có nghi môn, đại bái, cung cấm. Nội thất phong cách thời Nguyễn.
Di vật có giá trị khoa học nhất là tấm bia đá “Cao Sơn đại vương thần từ bộ minh” được soạn năm 1510 tưởng lệ công lao thần Cao Sơn ngầm giúp vua Lê giành lại ngai vàng từ kẻ ngoại thích, và 36 đạo sắc phong, cổ nhất là đạo sắc phong năm 1620.
Thăng Long tứ trấn, mỗi nơi thờ một vị thần, kết hợp chính sử và thần thoại, tất cả đều nhiều lần trăm tuổi, mang trong lòng nó những sự tích bí ẩn, những võ công hiển hách, trên cả là lòng yêu nước, trung với dân. Không hiểu có vùng nào trên trái đất này có “Tứ trấn” còn đến ngày nay hầu như nguyên vẹn cho các thế hệ nối tiếp chăm sóc, tu tạo.
|
 Đền Kim Liên - Trấn phương Nam
|
Thành phố đã chi hàng chục tỉ đồng cho trùng tu, nhìn chung giữ được nguyên trạng không sa đà vào kiểu cách làm mới bộ phận này, cấu trúc nọ. Điều cần được tiếp tục cho những thế hệ sau là nâng cao cảnh quan đình Kim Liên, đền Bạch Mã, để tôn tạo ý nghĩa, giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc truyền thống - Cần phải quảng bá cho các thế hệ sau không chỉ hiểu được mà còn cảm thụ được giá trị nghệ thuật, giá trị lịch sử. Tiếc thay, điều đó chưa làm được bao nhiêu, nên không ít sinh viên còn chưa hiểu thế nào là “Thăng Long tứ trấn”! Thật đáng buồn cho vốn kiến trúc văn hóa truyền thống của chúng ta, nhất là sinh viên kiến trúc (mong cho điều tôi “đáng buồn” không phải là sự thật).
Nguồn ảnh: Internet
KTS Ngô Huy Giao
Theo Kiến trúc Việt Nam số 1+2/2010