Tìm kiếm Nhận bản tin kiến trúc English
Thứ tư, 23/07/2014, 12:57 GMT+7 Thông tin tòa soạn   |  Liên hệ quảng cáo   |  Đặt báo
 
Trang chủ
Tin tức - Sự kiện
Đô thị tương lai
Vấn đề quan tâm
Công nghệ vật liệu mới
Diễn đàn
Góc nhìn thời sự
Lý luận - Phê bình - Nghiên cứu
Giáo dục - Đào tạo
Doanh nghiệp - Dự án
Tác giả - Tác phẩm
Đô thị - Cuộc sống
Góc thiết kế
Địa phương: Tiềm năng & Phát triển
Nhìn ra thế giới
Sắc màu nội thất
Mục lục
 





 
Số người truy cập: 48327765
 
 
Diễn đàn
Các hình thức mái nhà Việt Nam  
Trong công trình kiến trúc có 3 phần rõ rệt: đế nhà, thân nhà và mái nhà. Mái nhà là bộ phận không thể thiếu đối với công trình kiến trúc với chức năng chính là che mưa, nắng, bảo vệ không gian của ngôi nhà.



Gắn với mái nhà là các vật liệu mái, trong đó  vật liệu lợp mái đóng vai trò quyết định tới độ dốc của mái nhà. Nếu mái nhà làm bằng tranh tre, nứa lá có độ dốc 33 – 450; Mái nhà Rông (Tây Nguyên) với phần mái nhọn cao vút có độ dốc lớn tới 70 – 800. Mái nhà dân gian thường lợp ngói có độ dốc 30 - 33 độ. Các mái lợp firo xi măng có độ dốc mái 18 - 200, mái lợp tôn có độ dốc 12 - 150. Với từng vật liệu, mục đích chọn các độ dốc nhằm đảm bảo thoát nước, gắn mái phù hợp với hình thức của nó. Hệ thống vì kèo của mái cũng tương ứng với từng loại vật liệu.  Nếu mái nhà được lợp bằng tranh tre nứa tương ứng với vì kèo tre, nhà mái ngói tương ứng với vì kèo gỗ, mái tôn thường làm  vì kèo thép…

 

            Ngoài vấn đề độ dốc, các hình thức trang trí bờ nóc đầu đao có vai trò tạo ra các hình thức mái. Hình thức mái được lồng ghép vào các biểu tượng, mái đình, bao giờ cũng có trang trí bờ nóc, lưỡng long chầu nguyệt. Ngoài trang trí trên bờ nóc, trang trí dưới mái bao gồm phần hiên vây xung quanh nhà, trang trí bên trong vì kèo.


              
                                                                    Mái không gian lớn
 

Các trang trí của vì kèo nói lên ý nghĩa, mức độ sang trọng của công trình, thể hiện tính văn hóa của công trình. Tại mỗi thời kỳ, tính văn hóa “ mái nhà” có những nét khác nhau.

 

Những hệ thống vì kèo trang trí trong các cung điện, đình chùa nhà Nguyễn đã tạo thành những nét đặc trưng, khác so với thời kỳ trước. Lịch sử kiến trúc đã có sự phân tích khá rõ vấn đề này. ấn tượng về mái cũng là nét nhận diện ra kiến trúc truyền thống của từng dân tộc, từng quốc gia. Vì vậy, mái đình chùa được coi là mái tiêu biểu cho kiến trúc truyền thống. Do đó mái của các công trình kiến trúc cổ của Việt Nam  khác so với  hệ thống mái đình chùa của Thái Lan, Lào… ở đây khác về độ dốc mái, các lớp mái, cách xử lý các chi tiết hoa văn trang trí, kết cấu đỡ mái.

 

Tuy nhiên, một đặc trưng khác với mái của các công trình kiến trúc Pháp, trong kiến trúc Việt Nam phần cửa sổ mái không có. Giải pháp thông gió và lấy ánh sáng được

giải quyết nhờ các khe mái ( gọi là mái Cổ Diêm). Đặc trưng này dễ dàng nhận thấy ở mái chùa Tây Phương, mái của các công trình kiến trúc cung điện…

 

Nhà ở dân gian trước đây với các mái nhà dân gian truyền thống có 2 mái hoặc 4 mái, trong đó nhà 2 mái là chính. Đặc trưng nhất của mái nhà dân gian là hệ thống vì kèo gỗ của mái nhà. 


            
                                                      Kiến trúc mái chùa Tây Phương
 

Trong kiến trúc nhà công sở thời Pháp đã có sự phát triển lên nhiều hệ mái. Mái ô văng, mái hiên, bộ phận tiền sảnh cũng  có thể tạo nên nhiều hệ mái. Sự tham gia của nhiều hệ mái đã tạo ra các nét kiến trúc riêng. Đặc biệt là hình thức mái từ trên, rải rác theo các tầng ở dưới. Hiện nay ở các biệt thự, sự phong phú nhất là bộ phận mái, nó phát triển với nhiều hình thức, tạo nên sự đa dạng, sức hấp dẫn, nét đặc sắc của công trình. Có rất nhiều biệt thự đã sử dụng cho các lớp mái với nhiều vật liệu khác nhau, nhiều giải pháp cấu tạo khác nhau. Mái có thể sử dụng bằng những ngói màu, trước đây phần lớn có màu đất nung truyền thống. Hiện nay màu sắc đã đa dạng hơn rất nhiều.

Tuy nhiên các hình thức mái nhà của Việt Nam hiện nay được tồn tại khá phổ biến là kiểu kiến trúc Pháp. Đâylà một quá trình du nhập, sử dụng khá phổ biến khi người Pháp sang đô hộ Việt Nam (trước năm 1954). Đặc trưng nhất của kiến trúc Pháp chính là hệ thống mái theo kiến trúc địa phương Pháp với 3 hình thức chính: mái của miền Bắc nước Pháp: mái dốc cao để chống tuyết đọng; Mái của nhà miềnTrung Pháp có độ dốc trung bình; và mái nhà của miền Nam Pháp có độ dốc thấp hơn. Đặc trưng cơ bản nhất của các loại mái này là bộ phận cửa sổ của mái để thông hơi, lấy ánh sáng cho tầng áp mái. 

 

Hình thức nhà mái bằng hiện nay đang là loại hình phổ biến không chỉ ở các đô thị mà lan tràn về mọi ngõ ngách của nông thôn. Loại mái này được làm chủ yếu bằng bê tông và sắt thép. Mái nhà này tạo nên tính kiên cố trước gió bão và nó một phần thể hiện tính hiện đại trong tư duy của người dân. Tuy nhiên, loại hình này có thực sự hợp lý trong điều kiện khí hậu Việt Nam không, khi mà ở nông thôn người dân phải chắt chiu cả đời mới xây được ngôi nhà mái bằng, nhưng vào giữa trưa mùa hè (nắng 360) họ phải ra ngồi gốc cây vì quá nóng . Sự hấp thụ nhiệt của bê tông, độ cao nhà xây không đúng quy cách… đã tạo nên những “ bi kịch” dở khóc dở cười này.

               
                            Mái nhà cao tầng - Tổ hợp nhà đa năng - Quận Tây Hồ - Hà Nội

Đối với nhà cao tầng, nhà siêu cao tầng có đặc trưng là hình khối phát triển theo chiều cao. Mặt bằng khối gọn (vuông tròn hay đa giác có các cạnh đều nhau). Nét đặc trưng của nhà cao tầng là phần khối kết thúc xem như là phần mái. Kiến trúc sư đã xử lý khối của các phần cao tầng phía trên tạo ra các cảm giác về mái.

 

ở một số công trình cao tầng, các nhà kiến trúc đã giải quyết cấu trúc không gian của các phần tầng trên để tạo ra cảm giác mái. Vì vậy “mái của nhà cao tầng đó” có khi cũng chiếm một phần khối tương đương với 3 - 4 tầng. Càng lên trên khối càng thu nhỏ dần để tạo ra “phần khối mái” hết sức độc đáo, có giá trị thẩm mỹ.

 

Với những công trình có không gian lớn, toàn bộ công trình có thể ẩn dưới một cái mái lớn. Xử lý hiệu quả nhất đối với loại mái này phải nhờ đến giải pháp khoa học và kỹ thuật hiện đại. Các công trình có mái lớn này thường là các trung tâm triển lãm, trung tâm thể dục thể thao, nhà thi đấu, cung thể thao, sân vận động…ở các công trình này, tùy thuộc vào bố cục mặt bằng và giải pháp kỹ thuật kết cấu mái, mái cũng có nhiều hình thức khác nhau: mái vòm vỏ mỏng; mái cong 2 chiều, mái dây cheo, mái dàn không gian v.v..

 

Mái nhà có vai trò quan trọng trong việc tạo nên tính thẩm mỹ của kiến trúc. Nó cũng là vấn đề cốt lõi của việc tạo hình dáng độc đáo cho công trình. Mái nhà Việt Nam cũng theo một lộ trình  phát triển chung theo trào lưu quốc tế khi mà ngày nay với nền khoa học công nghệ vật liệu hiện đại chúng ta sẽ có nhiều những mái nhà độc đáo, hữu hiệu. Tuy nhiên với mỗi dân tộc đều có những kiểu mái đặc trưng riêng góp phần tạo nên  bản sắc kiến trúc dân tộc. Hệ thống mái Đình làng, mái chồng Diêm (kiểu chùa Tây Phương - Hà Tây), mái “trùng thiềm điệp ốc” (cung điện Huế) v.v..là những mái nhà tiêu biểu của các loại hình kiến trúc truyền thống Việt Nam.

 

Trước xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nhiều vật liệu mái mới các công trình kiến trúc được kết thúc với các bộ mái muôn hình muôn vẻ. Thực tế việc chạy theo trào lưu dùng tôn (Ví dụ: cả thành phố hiện nay đều  lợp tôn, coi là võ để sử dụng khi chưa có phương án cứu chữa chống thấm, giột cho mái bằng). Thì đây cũng là điều mà những kiến trúc sư chúng ta phải xem xét, tìm tòi. Nhà ở nông thôn Việt nam khắp 3 miền Bắc - Trung - Nam, từ đồng bằng đến miền núi hay vùng biển đang có nhiều thay đổi một cách tự phát thiếu định hướng. Việc người nông dân đồng bằng Bắc Bộ bỏ nhà mái ngói làm nhà mái bằng - điều này nên hay không? Tất cả những vấn đề trên đang rất cần sự quan tâm chỉ dẫn của các nhà thiết kế, các KTS và các kĩ sư xây dựng.

                                                                                                                             GS.TS.KTS.Nguyễn Bá Đang
Bài mới
  Bất động sản khách sạn, nghỉ dưỡng Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển dài hạn
  “Không ai nghĩ giá bất động sản sẽ còn rơi tiếp nữa”
  Xây dựng thành phố Vĩnh Long bền vững về môi trường theo hướng kinh tế xanh
  "Công viên hoàng thành" - Sự kết nối các yếu tố Bảo tồn - Cộng đồng và tiết kiệm năng lượng
  Nhà siêu mỏng hết thời “tung hoành”
Bài đã đăng
  Duy trì giá trị lịch sử phải là ưu tiên số 1 của trùng tu di tích
  THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH : THÀNH PHỐ TOÀN CẦU HAY THÀNH PHỐ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ?
  Diện mạo kiến trúc Hà Nội: Hôm qua, hôm nay, ngày mai… Bàn luận
  Kiến trúc Hà Nội: Thực trạng và quản lý?
  Phát triển kiến trúc hiện đại Việt Nam ở Hà Nội
 
QUẢNG CÁO
 
 

Website KIẾN TRÚC VIỆT NAM 

Cơ quan thiết lập: Tạp chí Kiến trúc Việt Nam
Địa chỉ:  Số 389 Đội Cấn - Ba Đình - Hà Nội

Điện thoại: 043.7620132   Email: tcktvn@gmail.com

Giấy phép của Bộ thông tin và truyền thông số 120/GP –TTĐT;        Người chịu trách nhiệm chính: Tổng biên tập Phạm Thị Thanh Huyền
Bản quyền thuộc về Tạp chí Kiến trúc Việt Nam. Ghi rõ nguồn khi lấy lại thông tin từ Website này.

Powered by Time Universal Communications
Liên hệ quảng cáo   |  Liên hệ